DIỄN ĐÀN PHẬT PHÁP THỰC HÀNH - Powered by vBulletin




Cùng nhau tu học Phật pháp - Hành trình Chân lý !            Hướng chúng sinh đi, hướng chúng sinh đi, để làm Phật sự không đối đãi.


Tánh Chúng sinh cùng Phật Quốc chỉ một,
Tướng Bồ Đề hóa Liên hoa muôn vạn.

Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 113
  1. #1
    Ban Điều Hành Avatar của hoangtri
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    2.234
    Thanks
    740
    Thanked 630 Times in 296 Posts
    GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN
    GIỚI THIỆU VÀ CÁC CHUẨN BỊ Phần 2
    __________________________________________________ ______________________________________


    Bất kể các thực hành nào bạn đang làm, nó phải liên quan đến cái chết của bạn và giúp bạn trong tiến trình cận tử. Nếu nó không cho bạn bất cứ lợi ích hiển nhiên nào khi chết, bạn đã bị mất hiệu quả. Như một loại suy, nếu bạn làm món canh bằng các miếng phổi khô, tất cả các miếng phổi sẽ nổi lên mặt canh. Tương tự, nếu bạn đặt bắp rang vào nước, nó sẽ nổi ngay lên mặt nước. Đừng để thực hành của bạn giống như món canh phổi khô hay bắp rang nổi lên mặt nước. Sự thực hành của bạn phải có một số giá trị vững chắc lâu dài và lợi ích hiển nhiên cho bạn khi chết. Đây là điều rất quan trọng cho dù bạn là học giả, hành giả hay thiền giả.

    Mặt khác, đây là lợi ích chắc chắn trong bất cứ thực hành Giáo Pháp nào mà bạn tham gia, bao gồm sự nghe, tư duy, thiền định, sùng kính v.v... Trái lại, ở Mỹ thường người ta chẳng bao giờ thỏa mãn. Có hai loại không thỏa mãn. Cái đầu tiên không thỏa mãn khi bạn đang tham gia trong lắng nghe, suy nghĩ hay thiền định, cho đến khi bạn thực sự đạt giải thoát. Loại không thỏa mãn này nảy ra sự thiếu tự mãn, đó là điều tốt. Với loại không thỏa mãn thứ hai bạn có thể nhận được Giáo Pháp có năng lực đem bạn đến giác ngộ và giải thoát trong chính kiếp sống này. Nhưng vì không thỏa mãn chúng ta bỏ quên chúng và không áp dụng vào thực hành. Đúng ra là bạn chờ đợi cho giáo lý được nói là cao quý, bí mật và mật truyền hơn và chạy theo chúng với hy vọng sẽ có hiệu quả đặc biệt hơn. Ví dụ, trước tiên bạn có thể nhận được giáo lý cao quý về quan điểm Madhyamaka (trung đạo) và có được một số hiểu biết về trí tuệ nhưng không thực hiện quan điểm này vào thiền định. Sau đó có thể bạn nghe về Mahamudra rồi chạy theo. Chẳng thực hành theo giáo lý nào, có thể bạn lại nghe về Atiyoga, Đại Viên Mãn và nghĩ rằng giáo lý đó còn cao hơn. Nhưng một thói quen xấu đã được thiết lập và bây giờ bạn lại quen với việc đi tìm nhiều giáo lý mật truyền hơn. Trong tiến trình bạn chẳng đặt được một nền tảng nào cho bất cứ điều gì. Đây là vấn đề của xứ sở này. Những người mới bắt đầu không biết cái nào tốt nên họ không đáng trách.

    Khuynh hướng phổ biến khác là chấp nhận quan điểm phù phiếm hướng đến Giáo Pháp, một loại tâm thức hổ lốn lý sự hết giáo lý này đến giáo lý khác mà không thực sự nghiền ngẫm và lĩnh hội giáo lý đã tiếp nhận. Đó là vấn đề, và giải pháp là tự mình cam kết vững chắc với giới luật tâm linh và thực hiện trong thực hành từng giai đoạn. Hãy thiết lập một nền tảng trong thực hành và xây dựng trên đó. Khi xem lại cuộc sống của chúng ta từ thời còn bé đến nay, chúng ta có thể tự hỏi, “Thực tế cho đến bây giờ chúng ta đã xây dựng được nền tảng gì rồi?” Nhiều người trong chúng ta thậm chí chưa thực sự hoàn thành khóa học của mình, điều đó cho thấy cùng một dạng thái độ không tham gia xuyên suốt với một dự định tốt. Chúng ta đã có nhiều cơ hội để nâng cao khóa học của mình nhưng lại không tận dụng và để cơ hội trôi qua. Do vậy, hãy tập trung vào thực hành của bạn và lĩnh hội những gì bạn đã được dạy.

    Một số người rất kiên trì bám chấp vào một hệ phái hay truyền thống Phật giáo riêng. Ví dụ một số hành giả Hinayana nghĩ rằng phái của họ là giáo lý duy nhất thật sự của đạo Phật và giáo lý Mahayana là không trung thực. Có thể một số người đi theo truyền thống Mahayana nghĩ rằng Hinayana là không trung thực hay thấp hơn. Dĩ nhiên, loại quan điểm bè phái này chẳng có bất kỳ lợi ích nào. Mặt khác nó cũng chẳng có lợi ích gì. Nếu đi theo Hinayana, bạn đang tập trung trên nền tảng của toàn bộ thực hành đạo Phật. Điều này đòi hỏi thiền định về Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên và trau dồi quan điểm thoát khỏi luân hồi sinh tử. Trên nền tảng đó bạn có thể tiến tới Mahayana và trau dồi tâm linh tỉnh thức, trau dồi trước hết mọi tinh thần khao khát giác ngộ. Để điều này được dễ dàng, bạn phải trau dồi tứ vô lượng tâm của lòng từ, bi, hỷ, xả v.v... Trên nền tảng đó bạn có thể tiến đến việc trau dồi sự mạo hiểm đến giác ngộ với sự trau dồi sáu hoàn thiện v.v... Trên nền tảng đó bạn có thể đi vào Vajrayana. Có nhiều đại lộ của thực hành, chẳng hạn nếu bạn tập trung trên giai đoạn thực hành phát triển và có được nhận biết của các hóa thân hiền minh và phẫn nộ của các bậc giác ngộ, điều đó sẽ dẫn bạn đến giải thoát. Trên nền tảng thực hành này bạn có thể đi vào Atiyoga hay Đại Viên Mãn. Tuy nhiên, nó được thiết lập bởi nền tảng mà bạn có thể hoàn thành từ chuỗi thực hành trên. Nếu không thiết lập được nền tảng đó mà chỉ tiến tới điều gì khác và sau đó từ bỏ thì cũng không có lợi ích. Mọi biểu lộ của tâm thức bè phái là biểu lộ tương tự của vấn đề cũ kỹ; bám luyến và thù ghét. Việc nói “Tôi là người thuộc phái Nyingmapa” hay “Tôi thuộc phái Gelugpa” với thái độ cam kết với con đường riêng cho đến khi đạt được cực điểm của nó là điều tốt. Nhưng nếu bạn không đến được kết quả của con đường mà chỉ bám luyến vào nó thì chẳng có lợi ích. Nếu bạn đang theo một con đường của Phật giáo, việc thực hành cắt đứt của bạn phải là sự hàng phục ba độc của tâm bạn: tham, sân và si. Sự thực hành Pháp của bạn phải hoạt động như sự giải độc cho ba độc này.
    Om Mani Padme Hum !

  2. #2
    Ban Điều Hành Avatar của hoangtri
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    2.234
    Thanks
    740
    Thanked 630 Times in 296 Posts
    GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN
    GIỚI THIỆU VÀ CÁC CHUẨN BỊ Phần 2
    __________________________________________________ ______________________________________


    Nếu sự thực hành Giáo Pháp của bạn không chống lại và hàng phục được các phiền não trong tâm thức thì việc bạn là một Phật tử là điều đáng ngờ. Là một Phật tử có nghĩa để khuất phục được chất độc trong tâm thức bạn, để trau dồi tâm linh tỉnh thức và để chuyển tâm bạn khỏi sinh tử. Nếu, trong tiến trình thực hành của bạn, chẳng có điều gì kể trên xảy ra vậy việc gọi chính bạn là một Phật tử có ý nghĩa gì?

    Một số trong các bạn có thể muốn thực hành Atiyoga, Đại Viên Mãn. Tại sao được gọi là “Đại?” Tại sao nó được gọi là “Viên mãn?” Nó được gọi là Viên mãn vì mọi phẩm tính của Giác ngộ đều được viên mãn trong thực hành này. Nó được gọi là “Đại” vì không có gì lớn hơn được. Tuy vậy, nếu chấp nhận quan điểm bè phái bám chấp vào chính bạn như hành giả của Đại Viên Mãn, thì bạn không biết Đại Viên Mãn là gì. Giáo lý về Đại Viên Mãn trình bày rằng toàn bộ Luân hồi và Niết bàn đều cùng một bản tánh. Nếu đó là trường hợp, trong lúc này bạn đang bám chấp vào khái niệm là một hành giả của Đại Viên Mãn thì bạn ở đâu trong Luân hồi và Niết bàn? Nếu ngay cả bạn không biết ý nghĩa của thuật ngữ “Đại Viên Mãn,” tôi đề nghị bạn nên dừng lại việc tuyên bố như vậy về chính bạn. Mọi hiện tượng đều cùng một vị và tất cả Giáo Pháp đều cùng một vị. Chẳng hạn, trong truyền thống Gelugpa, có một thực hành phổ biến được biết như Lama Chopa, là sự thờ phụng hay sùng kính đến vị thầy tâm linh. Trong thực hành này bạn niệm, “Ngài là vị thầy tâm linh”, “Ngài là vị bổn tôn đã chọn” “Ngài là Dakini” “Ngài là Hộ Pháp” v.v... Sự thực hành tập trung trên vị thầy tâm linh là vì mục đích kinh nghiệm các phẩm tính giác ngộ của vị thầy tâm linh. Sự thực hành như vậy được tìm thấy trong tất cả truyền thống của Phật giáo Tây Tạng không chỉ trong phái Gelugpa. Đó là cùng một vị trong tất cả truyền thống này.

    Giữa nhiều dạng thực hành có thể sử dụng được cho chúng ta, nếu tập trung chỉ trên Guru Yoga và nếu chúng ta làm điều này thật tốt sẽ thấy toàn bộ ý nghĩa của giai đoạn phát triển và hoàn thiện đều được bao gồm trong đó. Toàn bộ con đường Hinayana và Mahayana đều bao gồm trong đó. Toàn bộ Tantra và Atiyoga đều bao gồm trong đó. Nếu bạn có thể thực hành tốt Guru Yoga, điều đó là đủ. Bạn không cần làm gì nhiều ngoài thực hành của mình, chỉ thực hành và làm tốt nó. Nếu không làm được và đi vòng quanh với cảm giác kiêu ngạo rằng bạn đang đi theo cái cao nhất của mọi thực hành và bạn là một hành giả của Atiyoga, bạn chỉ đem lại sự hổ thẹn trên chính bạn.

    Một số trong các bạn có thể đôi khi đảm nhận vai trò của một Pháp sư. Nói chung, tư tưởng có thể dễ dàng khởi lên rằng dù thế nào chăng nữa thường thì vị thầy cao hơn đệ tử và đó là điều tại sao vị thầy giảng dạy và người khác được nhận giảng dạy. Nếu thỉnh thoảng bạn đảm nhận vai trò của một vị thầy tâm linh, người cố vấn hoặc người hướng dẫn, điều quan trọng trước tiên là hãy khảo sát tâm bạn. Khi bạn đến gần Pháp tòa. Từ điểm lợi thế của Tánh Không hãy thấy Pháp tòa là rỗng không. Khi bạn bước lên ngai để ban Giáo Pháp, điều quan trọng trước tiên là hãy nhớ lại những phẩm tính xuất sắc của Đức Phật, Giáo Pháp, Tăng Đoàn và các phẩm tính của vị thầy tâm linh bạn. Hãy cầu khẩn sự ban phước của các Ngài. Hãy nhớ lại lòng từ của các Ngài. Hãy cúng dường trong tâm. Với thái độ tôn kính, hãy suy nghĩ về những điều này khi bạn sắp bắt đầu ban giáo lý. Kế tiếp, khi để ý những người đến với bạn cầu giáo lý, hãy đáp ứng sự thỉnh cầu và mối quan tâm của họ với tinh thần rộng lượng. Điều này là tặng phẩm của bạn cho họ. Cống hiến giáo lý với động cơ sống để lợi ích người khác. Với động cơ như vậy, trong thực tế đó là lợi ích cho người khác và cũng là lợi ích cho chính bạn. Chính hành động cống hiến giáo lý cho người khác khiến tịnh hóa các nhiễm ô và nghiệp bất thiện bạn đã tự tích lũy và giúp bạn tích tụ công đức cho chính mình. Trong hai cách này đều là lợi ích cho bạn. Ngoài ra, khi đang giảng dạy bạn nghe giáo lý bạn đang ban và như vậy bạn cũng đang giảng dạy chính mình. Thậm chí bạn có thể học được từ những lời được thốt ra từ chính miệng bạn. Khi bạn đang giảng dạy việc quán tưởng vị thầy tâm linh hoặc các đối tượng quy y khác trên đỉnh đầu bạn cũng rất hữu ích. Bất kể truyền thống nào bạn theo, là Gelug, Kagyu, Sakya hay Nyingma, hãy mang trong tâm vị nào mà bạn có lòng tin lớn nhất. Thậm chí nếu có niềm tin vào nhiều vị, bạn vẫn có thể quán tưởng chỉ một vị, nhưng hình dung vị này cùng bản tánh như tất cả đối tượng quy y đó. Tất cả các Ngài đều bao hàm trong một.

    Bạn thực có niềm tin và thực sự có lòng Bi vậy phải nhớ điều này trong tâm khi đảm nhận vai trò vị thầy. Trái lại, nếu bạn bước lên Pháp tòa với cảm giác là người đặc biệt trong lúc người khác là bình thường, ngay cả điều này cũng không phải là thái độ của người Phật tử. Hãy nhìn tấm gương của người khác. Khi Đức Dalai Lama sắp ban giáo lý, trước tiên Ngài đến Pháp tòa và đảnh lễ ba lần. Tại sao Ngài làm điều này? Ngài đang nhớ lại những phẩm tính của Đức Phật, Giáo Pháp, Tăng Đoàn và vị thầy tâm linh của Ngài; và Ngài làm điều này với thái độ tôn kính và yêu quý. Ngài không đảnh lễ đến ngai và nghĩ, “Đó là nơi tôi sắp ngồi và vì là người trong sạch nên cúi lạy ngai này mà tôi sắp ngồi.”
    Om Mani Padme Hum !

  3. #3
    Ban Điều Hành Avatar của hoangtri
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    2.234
    Thanks
    740
    Thanked 630 Times in 296 Posts
    GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN
    GIỚI THIỆU VÀ CÁC CHUẨN BỊ Phần 2
    __________________________________________________ ______________________________________


    Nếu bạn giảng dạy Giáo Pháp hãy làm với thái độ tôn kính và yêu quý này, bạn sẽ không cần làm bất cứ điều nào khác thường. Bạn chỉ làm theo cách đơn giản này. Mặt khác, nếu động cơ của bạn và Giáo Pháp không thích hợp thì chẳng có lợi ích trong sự giảng dạy của bạn. Sẽ chẳng lợi ích cho bạn khi chết, đúng hơn là có hậu quả bất lợi. Kết quả sẽ là sự giảng dạy Giáo Pháp không trung thực và điều này sẽ chỉ gây cho bạn tái sanh vào một trong các trạng thái thấp của sinh tử.

    Đó là loại thái độ một vị thầy phải có để giảng dạy Giáo Pháp. Bây giờ, về phần học trò ra sao? Tôi đã du hành vòng quanh xứ sở này đã nhiều, đã từng đến các trường học và đã thấy cách cư xử của học trò trong trường học ở Mỹ. Học trò thường giơ chân lên hướng về vị thầy; họ ngồi dựa lưng vào ghế quay lưng về mặt vị thầy, trong tư thế đó họ hỏi người thầy và vị thầy trả lời trong lúc nhìn vào lưng họ. Điều đó có thể được tán thành ở trường Mỹ; nhưng với Giáo Pháp thì không được tán thành. Tư thế đó không làm tổn thương vị thầy dù ở bối cảnh Giáo Pháp hoặc thế gian mà nó làm hại học trò. Về một mặt nào đó xứ sở này vô trật tự, chẳng có quy tắc nào về tư thế của học trò phải có trong lớp học. Tuy nhiên, loại tư thế vô tình hoặc có lẽ thậm chí kiêu ngạo này thực sự gây bất lợi cho bản thân người học trò. Chẳng có lợi ích hay tổn hại nào cho vị thầy mà là làm hại học trò. Nếu bạn muốn học đúng cách hoặc có lợi nhất, cách cư xử về phần của đệ tử trong Giáo Pháp, bạn có thể tìm thấy thảo luận chi tiết về điều này trong bản văn được gọi là Năm Mươi Bài Kệ Về Sùng Kính Guru, đã được dịch sang tiếng Anh. Hãy nhớ rằng năm mươi bài kệ về mối liên quan đến vị thầy tất cả đều vì lợi ích cho đệ tử, không phải lợi ích cho vị thầy. Cư xử theo cách đúng là vì lợi ích của đệ tử, tịnh hóa những khuynh hướng và dấu vết bất thiện, tích lũy công đức và trau dồi những phẩm tính xuất sắc về phần của đệ tử.

    Giữa bốn phẩm cấp tâm linh của Phật giáo Tây Tạng – Gelug, Sakya, Nyingma và Kagyu – phái Gelug có chiều hướng là gương mẫu nổi bật nhất trong cách đệ tử sùng kính đến vị thầy. Họ thực sự gương mẫu. Mặc dù không thuộc phái Gelugpa, tôi đã sống bảy hay tám năm với các thành viên của phái này nên thấy cách họ cư xử ra sao. Mặt khác tôi cũng không thuộc phái Nyingmapa, cũng như Sakyapa hoặc Kagyupa. Tôi là một Phật tử và có niềm tin vào tất cả truyền thống này. Tôi không khẳng định có kiến thức hoặc hiểu biết về tất cả nhưng thật sự có niềm tin vào tất cả phái này. Do sự khẳng định ở trên về Gelugpa, tôi không ngụ ý rằng các phái khác không tốt. Đạo đức của họ cũng xuất sắc, nhưng tôi thấy Gelugpa đặc biệt nổi bật trong khía cạnh riêng biệt đó của thực hành. Và, dĩ nhiên ba phái khác thực sự biết đệ tử của họ phải liên hệ với vị thầy tâm linh ra sao. Song, có thể dưới ảnh hưởng của các vùng khác nhau ở Tây Tạng nên mỗi truyền thống này có khuynh hướng ưu thế hơn, bạn sẽ thấy một số khác biệt giữa bốn truyền thống tâm linh. Chẳng hạn, truyền thống Gelugpa đã được nuôi dưỡng rất mạnh ở khu vực Lhasa, thủ đô của Tây Tạng. Xã hội Lhasa có cách cư xử lịch thiệp và được tu dưỡng rất tốt. Cư dân ở Lhasa có xu hướng thời lưu nên điều này đã ảnh hưởng truyền thống tâm linh chiếm ưu thế nhất ở đó, đó là Gelugpa. Nếu bạn đến những nơi khác của Tây Tạng như Golok, Kham, hoặc Amdo ở phía bắc Tây Tạng thì không có văn hóa xã giao tế nhị lịch sự như vậy. Những vùng này là nơi truyền thống Nyingmapa và Kagyupa được nuôi dưỡng mạnh mẽ nhất. Do đó, có thể các truyền thống này bị ảnh hưởng tùy theo xã hội. Bản thân tôi từ Gyalrong trong vùng Kham-Amdo nên tôi không được lớn lên trong môi trường văn hóa tế nhị. Tôi không học được nhiều phép xã giao. Nếu bạn có thể cư xử lịch thiệp đến vị thầy tâm linh thì đó là điều tốt. Cùng lúc, điều quan trọng là cách cư xử bên ngoài của bạn với vị thầy tâm linh phải không giả tạo hay dối trá. Sự trung thực, trong sạch và kính trọng là những gì tôi xem là quan trọng.
    Om Mani Padme Hum !

  4. #4
    Ban Điều Hành Avatar của hoangtri
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    2.234
    Thanks
    740
    Thanked 630 Times in 296 Posts
    GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN
    GIỚI THIỆU VÀ CÁC CHUẨN BỊ Phần 2
    __________________________________________________ ______________________________________


    7

    Sự Giải Thoát Tự Nhiên Của Cái Thấy:
    Những Hướng Dẫn Dựa Trên Kinh Nghiệm Về
    Tiến Trình Chuyển Tiếp Của Tự Thân Thực Tại


    Trong chủ đề chung thứ năm, tiến trình chuyển tiếp của tự thân thực tại (hướng dẫn thiết thực, giống như đứa trẻ bò vào lòng mẹ, về lòng tin liên quan đến tự thân hình tướng), nên sự giải thoát tự nhiên của cái thấy đã được dạy. Sự hướng dẫn về tiến trình chuyển tiếp của cuộc sống đưa đến giải thoát tự nhiên của nền tảng, sự hướng dẫn về tiến trình chuyển tiếp của thiền quán ổn định đưa đến giải thoát tự nhiên của nhận biết v.v... đưa đến sự xác quyết qua thẩm tra bản tánh của sinh tử của tự thân thực tại thanh tịnh bổn nguyên rồi thực hành. Chúng được gọi là “chu trình Xuyên Thấu nền tảng.” Nhờ nhận ra tánh giác nhận biết trực tiếp tự thân thực tại và trở nên quen thuộc với nó, giờ đây bạn định rõ được tướng mạo của tiến trình chuyển tiếp của tự thân thực tại; và điều đó được gọi là “con đường giải thoát của sự Nhảy Vọt Qua.” Trong đây có bốn chủ đề: (1) đánh vào những điểm then chốt của thân, khẩu và ý, (2) sự bừng sáng của nhận thức trực tiếp trên bản thân mình nhờ ba loại điểm then chốt, (3) cách bốn cái thấy xuất hiện do thực hành, và (4) cuối cùng là lời khuyên kết thúc.

    Sự thực hành của tiến trình chuyển tiếp đầu tiên, thứ hai v.v... là cho mục đích nhận ra tiến trình chuyển tiếp của tự thân thực tại. Tương tự, trong Paramitayana năm hoàn thiện đầu tiên (năm ba la mật) được trau dồi vì mục đích của hoàn thiện thứ sáu, tức trí tuệ.

    ĐÁNH VÀO CÁC ĐIỂM THEN CHỐT CỦA THÂN, KHẨU VÀ Ý

    Trong việc đánh vào các điểm then chốt có ba phần: (a) các điểm then chốt của thân, (b) các điểm then chốt của khẩu, và (3) các điểm then chốt của ý.

    Các Điểm Then Chốt Của Thân

    Trong các điểm then chốt của thân cũng có ba phần: (i) tư thế Nirmanakaya, ngồi xổm như một rsi, (ii) tư thế Sambhogakaya, như con voi nghỉ ngơi, và (iii) tư thế Dharmakaya, giống như sư tử trong tướng con chó. Tantra Nguyên Thủy về sự Xuyên Thấu của Âm Thanh trình bày:

    Với tư thế sư tử của Dharmakaya, hành giả thoát khỏi mọi sợ hãi lừa dối và thấy với mắt vajra. Dựa vào tư thế Sambhogakaya của con voi nghỉ ngơi, hành giả lưu xuất thân tướng của tự thân thực tại và thấy với mắt của Giáo Pháp.

    Chuỗi Hạt Ngọc Trai trình bày:

    Có ba loại điểm then chốt của thân, cách thức của sư tử, của voi, và giống như rsi.

    Với không hơn bảy học trò khi bầu trời trong sáng và không có gió hãy dẫn học trò của bạn đến nơi hiu quạnh. Trước tiên, tư thế Dharmakaya giống như sư tử trong dạnh con chó đòi hỏi vị trí của thân trong hình dáng một con chó. Đặt hai lòng bàn chân bạn trên đất; tay kết ấn kim cang quyền; bấu ngón chân cái xuống đất; duỗi phần thân trên của bạn như sư tử, đem hết sức của bạn làm dựng đứng; dồn sức mạnh của bạn vào cổ họng và hướng tri giác vào đối tượng của nó.

    Sự rèn luyện trước này cần được dạy khi bầu trời hoàn toàn trong sáng, không mây, không mưa và không có sương mù. Bạn có thể rời thành phố để hoàn thiện rèn luyện này. Khi bạn “dồn sức mạnh vào cổ họng,” bạn uốn cong cổ một chút. Trong khi ép cằm xuống bạn vươn cổ ra sau. Khi “hướng tri giác vào đối tượng của nó,” giác quan mà bạn hướng là thị giác, hay cái nhìn chằm chằm của bạn.

    Trong thời kỳ thực hành này liên quan đến giai đoạn Nhảy vọt qua của thực hành Đại Viên Mãn, được dạy một các truyền thống chỉ cho một vài đệ tử vào lúc họ đã chuẩn bị kỹ lưỡng cho thực hành này. Họ đã hoàn tất đầy đủ mọi thực hành chuẩn bị; đã rèn luyện trong thực hành liên quan đến kinh mạch và năng lượng cần cho sự sống và đã rèn luyện trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện. Họ cũng đã rèn luyện trong thực hành Xuyên Thấu, đòi hỏi kinh nghiệm trong sự trau dồi chỉ và quán. Các đệ tử với nền tảng thực hành như vậy là kinh mạch thích hợp cho sự trau dồi của giai đoạn nâng cao của Nhảy-vọt lên.
    Om Mani Padme Hum !

  5. #5
    Ban Điều Hành Avatar của hoangtri
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    2.234
    Thanks
    740
    Thanked 630 Times in 296 Posts
    GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN
    GIỚI THIỆU VÀ CÁC CHUẨN BỊ Phần 2
    __________________________________________________ ______________________________________


    Giáo lý cao cấp Đại Viên Mãn không thiết kế cho người thậm chí không có bất cứ ý thức quy y nào. Vậy tại sao tôi lại cống hiến điều này như giáo lý công truyền? Có một số vị đại lama đương thời nói rằng bây giờ là lúc để ban giáo lý công khai này. Ngài Yangthang Tulku Rinpoche, Đức Jigmey Phuntsok, và Đức Orgyen Kusum Lingpa đã tuyên bố rằng bây giờ là lúc khi giáo lý về sáu tiến trình chuyển tiếp đã được dạy rộng rãi. Bản thân Ngài Karma Lingpa, vị lama hiển lộ đầu tiên giáo lý này cũng viết một bài nguyện rằng giáo lý này có thể được nuôi dưỡng trong cuối thời đại suy thoái và cư xử của con người không thích hợp với Giáo Pháp. Do vậy, thời điểm cho giáo lý này trở nên công khai là bây giờ.

    Tuy nhiên, nếu bạn học giáo lý này theo cách hời hợt hoặc tò mò vu vơ sẽ dẫn bạn tái sanh vào cõi thấp trong trạng thái khổ cực của sinh tử. Nhưng nếu lắng nghe và học giáo lý này với niềm tin. Thậm chí không thực hành chúng, bạn cũng sẽ nhận được hạt giống giải thoát, đó là lợi ích to lớn. Thế nên, không ai nên bác quan điểm này và không ai nên khuyên các Pháp hữu của họ không tiếp nhận giáo lý về Đại Viên Mãn này, vì chúng quá bí mật hay cao cấp với họ. Xin đừng hủy lời khuyên của các vị đại lama này.

    Chẳng hạn, giáo lý về “giải thoát qua sự nghe” trình bày rằng chỉ cần nghe giáo lý này với niềm tin đã đặt hạt giống giác ngộ trong dòng tâm thức của hành giả. Thế nên đừng để hoài nghi ngăn cản người khác có cơ hội tiếp nhận giáo lý này. Những hoài nghi như vậy không có trí tuệ vượt hơn Ngài Karma Lingpa, người đã phát hiện giáo lý này đầu tiên. Hãy nhớ rằng Ngài là người nói đây là thời điểm thích hợp giáo lý này nên được công truyền. Giáo lý rất quý báu và có thể đại lợi ích cho bạn vào lúc chết. Dù thế nào đi nữa đừng cản trở lẫn nhau trong thực hành của bạn.

    Thứ hai, tư thế Sambhogakaya giống như con voi nghỉ ngơi đòi hỏi nằm úp mặt xuống như con voi; ép hai đầu gối vào ngực đưa các ngón chân ra ngoài; ép cùi chỏ trên đất và nâng cổ họng bạn lên một chút.

    Thứ ba, tư thế Nirmanakaya giống như vị rsi ngồi xổm, đòi hỏi thân bạn trong tư thế ngồi xổm; đặt hai mắt cá cùng nhau; cắm hai lòng bàn chân trên đất; hoàn toàn duỗi thẳng thân, ép hai đầu gối tựa ngay ngực bạn, bắt chéo hai cổ tay ôm hai đầu gối và vươn cột sống thẳng, đứng.

    Do đánh vào ba loại điểm then chốt của thân, bạn đánh vào điểm then chốt của sự hiện diện trí tuệ bổn nguyên của tánh giác trong thân để nó được nhận biết trực tiếp. Điều này giống như việc con rắn có nọc độc, nếu nó không bị ép lấy nọc, nọc độc vẫn tiềm ẩn.

    Các Điểm Then Chốt Của Khẩu

    Trong các điểm then chốt của khẩu cũng có ba phần: (i) rèn luyện trong khẩu, (ii) tịnh khẩu, (iii) kiên quyết. Trước tiên, rèn luyện trong khẩu đòi hỏi trong một ngày không được nói nhiều hơn ba hay bốn lần và càng ngày càng ít nói hơn. Thứ hai, tịnh khẩu đòi hỏi hoàn toàn không nói bất kể điều gì. Thứ ba, kiên quyết đòi hỏi sự kiên định như thể bạn bị câm hoàn toàn không nói bất cứ gì.

    Các Điểm Then Chốt Của Ý

    Không để nhận biết của bạn bị sao lãng ở nơi khác, đừng để nó chuyển hướng mục tiêu tập trung của bạn.
    Om Mani Padme Hum !

  6. The Following User Says Thank You to hoangtri For This Useful Post:

    Ngọc Quế (10-13-2021)

  7. #6
    Ban Điều Hành Avatar của hoangtri
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    2.234
    Thanks
    740
    Thanked 630 Times in 296 Posts
    GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN
    GIỚI THIỆU VÀ CÁC CHUẨN BỊ Phần 2
    __________________________________________________ ______________________________________


    SỰ BỪNG SÁNG CỦA NHẬN THỨC TRỰC TIẾP TRÊN CHÍNH MÌNH TRONG VIỆC PHỤ THUỘC VÀO CÁC ĐIỂM THEN CHỐT

    Ở đây có ba phần: (a) các điểm then chốt của những lỗ mở, (b) các điểm then chốt của đối tượng, (3) các điểm then chốt của năng lượng cần cho sự sống.

    Các Điểm Then Chốt Của Những Lỗ Mở

    Điểm then chốt của lỗ mở là mắt, Tantra nguyên thủy về Âm thanh xuyên thấu trình bày:

    Về phần lỗ mở,53 hãy nhìn bằng mắt của ba kaya.

    Vô Tự trình bày:

    Về phần mắt, hãy nhìn chằm chằm vào lãnh vực không gian.

    Chuỗi hạt Ngọc trai trình bày:

    Về mặt các lỗ mở, đừng chuyển động từ chính nơi đó.

    Dấu vết Nirvana trình bày:

    Các điểm then chốt của những lỗ mở là nhìn chằm chằm lên trên, xuống dưới, và bên cạnh.

    Ở đây có ba phần: Mục đích của cái nhìn chằm chằm Dharmakaya, bạn trợn mắt nhìn lên trên là để ngưng lại lập tức những hình tướng lừa gạt; mục đích của cái nhìn chằm chằm Sambhogakaya, trong đó bạn nhìn sang bên là để thấy kiến thanh tịnh của trí tuệ bổn nguyên và mục đích của cái nhìn chằm chằm Nirmanakaya đó là nhìn xuống dưới là để có được sự kiểm soát trên năng lượng sự sống và tâm. Thế nên, đừng tách rời ba cái nhìn chằm chằm, đó là các điểm then chốt của những lỗ mở.

    Trong cái nhìn chằm chằm Dharmakaya, bạn hơi trợn mắt lên trên nhưng không nhiều giống như bạn chết. Một số lama dạy rằng sau khi hành giả thực hiện bất kỳ tư thế nào ở trên, hành giả hãy để cái nhìn chằm chằm nghỉ ngơi trong bất cứ cách nào thoải mái. Tuy nhiên, theo truyền thống có sự phù hợp giữa các tư thế và cái nhìn này. Đó là cái nhìn chằm chằm Dharmakaya tương ứng với tư thế Dharmakaya v.v...

    Các Điểm Then Chốt Của Đối Tượng

    Ở đây có hai phần: bản tánh tuyệt đối bên ngoài và bản tánh tuyệt đối bên trong. Tantra Nguyên thủy về Âm thanh Xuyên thấu trình bày:

    Bản tánh tuyệt đối là bên ngoài và bên trong. Bên ngoài được biết như bầu trời không mây, và bên trong là con đường của ngọn đèn.

    Ngọn Đèn Rực Rỡ trình bày:

    Nhờ đặt nhận biết của bạn trong bản tánh tuyệt đối bên ngoài, sự nhận biết của chính bạn được tịnh hóa trong trạng thái của chính nó và trong sự xuất hiện của nó.

    Tánh Giác Tự-Hiện trình bày:

    Bản tánh tuyệt đối là hào quang tự nhiên.

    Dấu Vết Nirvana trình bày:

    Điểm then chốt của đối tượng là không gian thoát khỏi điều kiện.

    Bản tánh tuyệt đối bên ngoài là không gian thoát khỏi điều kiện và bản tánh tuyệt đối bên trong là ngọn đèn của bản tánh tuyệt đối hoàn toàn thanh tịnh. Vì không gian trống rỗng là đối tượng xuất hiện đến sự nhận biết rỗng không, do tập trung vào điểm then chốt của đối tượng, trí tuệ bổn nguyên xuất hiện tự do.

    Các Điểm Then Chốt Của Năng Lượng Sự Sống

    Ở đây có ba phần: giữ lại, tống ra và nhẹ nhàng ổn định. Tantra Nguyên thủy về Âm thanh Xuyên thấu trình bày:

    Bằng mọi phương tiện hãy nhẹ nhàng với năng lượng sự sống. Điều này xảy ra nhờ thải hết chúng ra.

    Dấu Vết Nirvana trình bày:

    Điểm then chốt của năng lượng sự sống là phải rất nhẹ nhàng.
    Trước tiên nhẹ nhàng giữ chúng, sau đó tống chúng ra ngoài xa như một mũi tên và sau đó rất nhẹ nhàng để năng lượng sự sống lắng xuống tự nhiên. Về phần điểm then chốt của sự nhận biết, hãy giam hãm tính cách. Vô Tự trình bày:

    Tinh túy xuất hiện giống như tính cách, vi tế, lung linh và phóng ra.

    Giác Tánh Tự-Hiện trình bày:

    Thân ánh sáng mang năm trí tuệ bổn nguyên xuất hiện rực rỡ như tính cách, đến và đi, phóng ra và che lại.

    Sức Mạnh Hoàn Hảo Của Sư Tử trình bày:

    Thực tại của tánh giác tự-hiện là sự hiện diện như tính cách của trí tuệ bổn nguyên.

    Hành giả giam hãm tính cách bằng việc giữ chúng ở trong. Để biết ý nghĩa của chữ “tính cách” bạn phải tham gia trong thực hành Nhảy-vọt lên tối thiểu trong vòng vài tháng. Trong thực hành này dòng ánh sáng trong trẻo, tượng hình, và cách sắp xếp xuất hiện trong phạm vi cái thấy của bạn. Lung linh, vi tế, phóng ra, và trong suốt, các hình tướng này là biểu hiện bên ngoài của trí tuệ bổn nguyên của tánh giác. Theo sau sự xuất hiện các hình tướng này nhiều loại bindu cũng xuất hiện, trong đó ánh sáng cầu vồng và cái thấy của vị bổn tôn bạn chọn có thể được thấy. Hàng loạt các hình cầu đồng tâm cũng xuất hiện bên trong những bindu này. Cái thấy của các bindu này là biểu hiện sáng tạo của trí tuệ bổn nguyên trong lúc tính cách là tự thân sự nhận biết, có thể nói là trí tuệ bổn nguyên của tánh giác. Một lần nữa bạn phải áp dụng giáo lý vào thực hành, và chính mình thấy chúng có ý nghĩa gì.

    Để có một số gợi ý của kinh nghiệm này, mắt bạn hơi liếc nhìn một chút trong lúc nhìn chằm chằm vào ánh sáng đèn điện. Bạn sẽ có thể thấy kiểu ánh sáng, đó là tiền thân của hình tướng sẽ xuất hiện trong thực hành xác thực Nhảy-vọt lên. Trong thực hành như vậy, bạn có thể nhìn chằm chằm vào nguồn ánh sáng như mặt trăng. Giáo lý Nhảy-vọt lên nói, “Khi mặt trời mọc ở hướng đông, bạn nên quay mặt về hướng tây. Khi nó ở hướng tây bạn nên nhìn về hướng đông.” Điều này ngăn mắt bạn không bị hại. Đừng thực hành Nhảy-vọt lên trong lúc nhìn mặt trời vì bạn sẽ bị mù. Thậm chí tốt hơn đừng nhìn trực tiếp vào đèn nến. Nhìn vào ánh sáng điện mờ cũng được và thấy một số hình ảnh nhưng đừng nhầm lẫn đó là thực hành chân chính của Nhảy-vọt lên.

    Dấu vết Nirvana trình bày:

    Hãy giam hãm các tính cách của nhận biết.

    Do đó, nhờ không tách rời ba điểm then chốt, quán sát các hình tướng của sự nhận biết. Thoạt tiên, làm điều này trong nhiều thời ngắn, sau đó tiếp tục ngày càng dài hơn. Kế tiếp thực hành vào những lúc đặc biệt trong ngày và đêm. Bạn sẽ rèn luyện trong một tháng rưỡi.

    Chúng ta thường được khuyên bắt đầu bằng những thời ngắn và dần dần tiến dài hơn. Nhưng nhiều người lại làm ngược lại; họ bắt đầu tiến hành với thời dài và sau đó giảm xuống cho đến lúc bỏ hẳn. Hãy bắt đầu bằng những thời ngắn rồi dần dần gia tăng thời gian của mỗi thời và giảm số thời trong ngày. Bạn có thể tiến dần thời công phu lên một giờ, một giờ rưỡi, hai giờ và mười hai giờ, sau đó là suốt ngày. Đây là chiến lược các vị lama ở quá khứ đã đi theo. Nếu bạn thực hành tốt giống như vậy thì sau một tháng rưỡi bạn sẽ hoàn thiện nó.
    Om Mani Padme Hum !

  8. The Following User Says Thank You to hoangtri For This Useful Post:

    Ngọc Quế (10-13-2021)

  9. #7
    Ban Điều Hành Avatar của hoangtri
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    2.234
    Thanks
    740
    Thanked 630 Times in 296 Posts
    GIẢI THOÁT TỰ NHIÊN
    GIỚI THIỆU VÀ CÁC CHUẨN BỊ Phần 2
    __________________________________________________ ______________________________________


    CON ĐƯỜNG TRONG ĐÓ BỐN CÁI THẤY XUẤT HIỆN TÙY THEO THỰC HÀNH NHƯ VẬY

    Ở đây có bốn phần; cái thấy trực tiếp của tự thân thực tại, cái thấy của kinh nghiệm tiến bộ, cái thấy của nhận biết tột bậc và cái thấy của sự tiêu hủy vào trong tự thân thực tại. Dấu vết Nirvana trình bày:

    Về phần cái thấy trực tiếp của tự thân thực tại, quan điểm bám chấp vào sự tan rã khái niệm. Về phần cái thấy dựa trên kinh nghiệm tiến bộ, trí tuệ bổn nguyên của tiến trình chuyển tiếp được làm cho xuất hiện. Nhờ sự nhận biết tột bậc, bạn nhận ra Sambhogakaya. Nhờ cái thấy của sự tiêu hủy vào tự thân thực tại, bạn đạt được quả của Đại Viên Mãn, thoát khỏi hoạt động. Vì thế một khi bạn đến tột bậc của nền tảng và con đường thì chẳng còn tìm kiếm nirvana ở đâu khác.

    Cái Thấy Trực Tiếp Của Tự Thân Thực Tại

    Vị thầy tâm linh dạy, “Hãy thực hiện các điểm then chốt của thân giống vậy, thực hiện các điểm then chốt của khẩu giống điều này và các điểm then chốt của ý hãy tập trung trên đó.” Nhờ thực hành như vậy không dựa trên sự thêm vào đối với sự phân tích tâm thức và lời nói, đệ tử thấy trực tiếp như đối tượng cái thấy của sự nhận biết tự thân thực tại trong không gian trống rỗng của họ, không bị nó làm nhiễm ô bởi bất kỳ quan niệm ép buộc nào do vậy, điều đó được gọi là “cái thấy trực tiếp của tự thân thực tại.”

    Cái thấy này xuất hiện trực tiếp không có bất cứ sự thêm vào của quán tưởng. Ví dụ, trong giai đoạn phát triển, bạn thêm vào nhiều quán tưởng dựa trên kinh nghiệm của bạn. Bạn thêm vào nơi chốn, bổn tôn trong nơi chốn v.v.... bạn cũng thêm vào lời nói như lời của sadhana, nên bạn gây ra kinh nghiệm này qua lời và quán tưởng. Đó là sự thêm vào cũng như các loại thực hành khác.

    Tuy nhiên, trái với điều đó, trong thời kỳ Nhảy-vọt lên, cái thấy xuất hiện không dựa vào bất cứ sự thêm vào nào dù của quán tưởng hay tụng niệm. Điều này xảy ra trên nền tảng của không gian trống rỗng. Đây là nơi cái thấy được kinh nghiệm và nó không cách nào bị nhiễm ô bởi quan niệm ép buộc hoặc suy nghĩ thông thường. Điều đó được gọi là cái thấy trực tiếp của tự thân thực tại. Lý do tại sao giai đoạn Nhảy-vọt lên của Đại Viên Mãn là thật kinh sợ vì nó là sự trực tiếp. Nó không có trung gian bởi quan niệm ép buộc và không lệ thuộc vào khái niệm hay lời nói thêm vào.

    Tantra Nguyên Thủy Về Âm Thanh Xuyên Thấu trình bày:

    Cái thấy trực tiếp của tự thân thực tại chắc chắc xuất hiện từ các lỗ mở của giác quan và nó rực rỡ trong bầu trời không mây.

    Vì thế, nhờ thực hành phù hợp với các điểm then chốt, giữa hai lông mày bạn ở đó được gọi là “ngọn đèn của tự thân thực tại bổn nguyên.” Nó xuất hiện giống như màu sắc của cầu vồng hoặc con mắt của lông công. Bên trong nó được gọi là “ngọn đèn của bindu trống rỗng,” và nó giống như những vòng tròn gợn sóng đồng tâm khi bạn ném hòn đá vào hồ nước.

    Trong giai đoạn thực hành này, bạn có thể thấy hào quang trắng hay xanh dương. Loại cái thấy bạn kinh nghiệm tùy thuộc vào sự chuyển hóa của chính bạn, nên thay đổi từ người này sang người khác.

    Bên trong hình dạng giống như những dĩa tròn của một khiên, xuất hiện ở đó một bindu kích thước bằng hạt mù tạt hay hạt đậu. Bên trong đó là “tính cách vajra của nhận biết” điều đó là sự tinh tế, giống như nút buộc trong bộ phận đuôi ngựa, giống như chuỗi xích sắt, như hàng rào hoa di chuyển với gió v.v... Tất cả chúng xuất hiện đều trong sự kết hợp của hai hay ba v.v... và chúng được gọi là “bindu độc nhất của tính cách nhận biết chính bạn.”

    Trong giai đoạn thực hành này, bạn có thể thấy nhiều ánh sáng sủi tăm nhỏ xíu, thanh mảnh. Chúng vô số và có thể xuất hiện trong nhiều màu sắc khác nhau. Tất cả chúng đều sủi tăm, tỏa sáng lung linh, nhanh như tên bắn và di chuyển vòng quanh. Chúng không “ở ngoài kia”, hiện hữu như một số thực tại độc lập trong không gian trước bạn. Đúng hơn là ánh sáng này xuất hiện theo sự di chuyển của năng lượng sự sống trong thân bạn. Khi bạn dần dần an định và điều phục được năng lượng sự sống trong thân, thì cái thấy này cũng lắng xuống.

    Đa dạng các cái thấy có thể xuất hiện trong giai đoạn thực hành này. Những dây ánh sáng nhỏ này có thể giống như tóc, hay sợi tơ ánh sáng đi qua khu vực của cái thấy bạn. Đôi khi chúng giảm số lượng trong lúc bạn nhìn chằm chằm vào nó. Đôi lúc chúng có thể trở nên dầy đặc hơn. Thỉnh thoảng chúng có thể thẳng và đôi khi có thể cong, đôi khi chúng cũng có thể xuất hiện trong khuôn tròn. Chúng có thể thay đổi trong mọi cách khác nhau này.

    Bản tánh tuyệt đối và sự nhận biết chẳng kết hợp cũng chẳng tách rời mà hiện diện trong cách mặt trời và những tia sáng của nó. Dấu ấn của bản tánh tuyệt đối là hào quang, sự biểu lộ của trí tuệ bổn nguyên là bindu, dấu ấn của sự nhận biết và hiện thân là tính cách. Về mặt vị trí, chúng hiện diện ở giữa citta,54[54] và về mặt con đường chúng xuất hiện trực tiếp đến mắt, đó là tinh túy nguyên chất của các giác quan. Tantra Nguyên Thủy Về Âm Thanh Xuyên Thấu trình bày:

    Cái thấy trực tiếp của tự thân thực tại chắc chắn xuất ra từ các lỗ mở của giác quan và nó chiếu sáng rực rỡ trong bầu trời không mây.

    Vì thế, quan điểm phân tích, bao gồm quan điểm bắt phải bám chấp vào khái niệm, ngôn từ, hiểu biết trí năng v.v... đều tan biến. Dấu vết Nirvana trình bày:

    Đối với cái thấy trực tiếp của tự thân thực tại, quan điểm gây ra bám chấp vào khái niệm được tan biến.
    Om Mani Padme Hum !

  10. The Following User Says Thank You to hoangtri For This Useful Post:

    Ngọc Quế (10-13-2021)

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •