GIẢI THOÁT TRONG LÒNG TAYPHẦN NĂM PHẠM VI LỚN _ Ngày thứ MƯỜI BẢY__________________________________________________ ______________________________________
a-2.1. Dạy về những chuẩn bị cho pháp này
Chương này là luyện tâm trong phần đường chung với những Phạm Vi Nhỏ và Trung Bình. Tôi không phải dạy lại phần này ở đây, vì không có gì khác nhau giữa cách đề cặp ở đây với cách trong Lam-rim.
a-2.2. Luyện tập hai loại tâm bồ đề
Luyện tập (1) tâm bồ đề tuyệt đối, và (2) tâm bồ đề tương đối.
a-2.2.1. Tâm bồ đề tuyệt đối.
Giáo lý được truyền thừa từ quá khứ nói rằng hạng người Đại thừa lợi căn nên luyện tâm bồ đề tuyệt đối trước hết. Tuy nhiên, câu chuyện về ngài Hastikopava có thể tái diễn nếu bạn làm việc luyện tâm bồ đề tuyệt đối trước khi giảng dạy phần kia nói về phương pháp.
(CT. Hastikopava đã làm một lỗi lầm khi dạy tâm bồ đề tuyệt đối trước - nghĩa là dạy trí tuệ về tánh không - cho một ông vua; ông này đã sai giết ngài trước khi ngài có cơ hội tiếp tục giảng phần còn lại của giáo lý, nói về bồ đề tâm tương đối hay tâm đại bi)
Bởi thế bây giờ tôi sẽ giảng về luyện tâm bồ đề tuyệt đối trước. Đây là theo pháp hành trì của thầy giáo đạo Tsecholing. Tôi sẽ bàn về nó sau, vì nó được đề cập trong chương nói về sáu ba la mật.
a-2.2.2. Luyện tâm bồ đề tương đối
Nguồn gốc chỉ giáo này là câu chuyện Maitrakanyaka và những chuyện khác, nói về một tiền kiếp của đức Đạo sư đầy từ mẫn của chúng ta khi Ngài còn là một bậc Dư lưu trên đạo lộ. Mặc dù lúc ấy, ngài bị tái sinh vào địa ngục làm một lực sĩ bị bắt kéo xe, ngài đã phát tâm bồ đề, vân vân.
Có năm tiêu đề phụ.
(i) Quán mình người bình đẳng
Điều này được đi trước bởi những phần ta đã bàn trước đây, nghĩa là từ “Xả” cho đến “Tâm từ do mãnh lực lôi cuốn.”
Khi ấy bạn nên quán như sau. Cúng dường Đạo sư nói:
Giữa tôi và người không có gì khác:
Chúng ta đều không muốn một chút khổ nào,
Còn hạnh phúc thì không bao giờ biết chán đủ.
Xin cho tôi vui mừng trước niềm vui của người.
Nói cách khác, hiện tại chúng ta yêu mến và đánh giá cao cái vật ta gọi là “tôi,” nhưng lại không nghĩ người khác cũng như thế, vậy tôi và người không bình đẳng. Thật là điều không hợp lý nếu làm một phân biệt to lớn như thế giữa hai bên. Đáng lẽ ta phải nghĩ, “Tôi và người khác đều bình đẳng, vì ai cũng muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau.”
Ở giai đoạn đầu này (về kỹ thuật) không cần sử dụng một lý lẽ nào. Giai đoạn luyện tâm này không khác gì với các phần “Hiểu rằng mọi Hữu tình đã là mẹ ta,” “Nhớ lại sự tử tế của họ,” và “Đền đáp sự tự tế của họ” trong kỹ thuật luyện tâm gồm bảy lớp nhân quả nói trên. Cũng vậy với hai phần cuối “Tâm Vị Tha” và “Tâm Bồ đề.” Tuy nhiên có khác nhau về mãnh lực của tâm Bi và tâm Từ qua năng lực của sự lôi cuốn. Hai khía cạnh này được đặc biệt đề cập ở đây. Chương trên về “Nhớ lại sự tư tế của họ” chỉ cho một phương pháp để nhớ lại sự tử tế của hữu tình đối với bạn khi họ khi làm mẹ của bạn. Kỹ thuật mới này có một cách nhớ lại sự tử tế của họ khi họ không phải là mẹ của bạn. Trước khi đi đến giai đoạn “trao đổi địa vị mình với người”, bạn phải nghĩ rằng hành ngã ái là một lỗi lầm, một điều kiện bất lợi, và thương người là một đức tính, một điều kiện thuận lợi.
(ii) Quán nhiều lỗi lầm phát sinh từ ngã ái
Cúng dường Đạo sư nói:
Tôi thấy căn bệnh ngã ái kinh niên này,
Là nguyên nhân sản sinh ra khổ đau không ai muốn…
Trong tác phẩm Hành Bồ Tất Hạnh nói:
Mọi khổ đau trên thế gian đã xảy đến
Bắt nguồn từ sự mong muốn hạnh phúc cho bản thân…
Bất cứ nỗi sợ hãi đau khổ nào
Trút xuống phàm phu
Đều bắt nguồn từ ngã ái
Sao tôi còn giữ con ma lớn này?
Bản văn gốc của chúng ta nói:
“Chỉ nên trách một điều mà thôi.”

Trả lời với trích dẫn