GIẢI THOÁT TRONG LÒNG TAYPHẦN BA NỀN TẢNG CỦA ĐẠO LỘ _ Ngày thứ MƯỜI HAI__________________________________________________ ______________________________________
(iii) Những thiện đức của ý Phật.
Những điều này được đề cập chi tiết trong những cổ thư nói về những đức tính do 21 thành phần của sự tinh thức nguyên ủy: thập lực, mười tám bất cọng, vân vân. Những người học và quán những cổ thư cần quán giáo lý đặc biệt này để rút ra những lợi ích.
Nói tóm, có hai hạng thiện đức: thiện đức do toàn trí và do từ bi. Vì chư Phật toàn tri, nên ngay cả khi Ngài đang trú trong thiền định về chân đế, Ngài cũng biết được tất cả những pháp khả tri rõ ràng như nhìn trái xoài trên bàn tay. Ta có thể biết điều này qua tác phẩm Ca Tụng Những Người Đáng Ca Tụng:
Đức Thế Tôn, tất cả pháp trong ba thời gian,
Tất cả những nguồn gốc của nghiệp,
Đều được trí Ngài phán xét
Như nhìn trái Am la trong bàn tay
Tất cả hiện tượng
Động hay bất động, một hay nhiều
Đều mở ra trước tâm Ngài
Không bị chướng ngại
Như giữa bầu trời trong sáng.
Một lần có một người dòng họ Thích Ca tên Nandaka chết. Những thầy tu viện thỉnh vong linh người chết khi họ cử hành tang lễ. Hình dáng người chết xuất hiện và những thầy cúng cho y thức uống ăn: y cư xử giống như Nankada thực, nhưng đấng Đạo sư cho họ biết đấy là do nhạc thần ở cõi Trời tạo ra. Nhưng những thân quyến không tin lời Phật.
Một quyển kinh kể rằng đấng Đạo sư mời mỗi người Sakya đem lại một hạt lúa và làm dấu trên hạt lúa của mình. Có rất nhiều người đến nỗi lúa họ đem lại có thể chất đầy một thớt voi. Đức Phật nhận ra từng hột của mỗi người không sai một hột. Việc này làm cho mọi người tin lời Ngài nói.
Truyền thừa Luật tạng kể rằng người ta đưa cho đức Phật nhiều mảnh gỗ đã cháy để dưới biển rất lâu mà Ngài vẫn nhận ra đúng từng mảnh. Không cần yếu tố gì khác, Ngài có thể nhận ra mãnh gỗ này đến từng vùng nào, nó thuộc về phần ngọn cây hay gốc cây.
Năng lực thần thông của thân giác ngộ là khả năng thị hiện trước bao nhiêu đệ tử cũng được, như mười triệu, một tỷ v.v… Năng lực thần thông của ngữ giác ngộ là khả năng nói vói mọi người; có thể dạy pháp đồng loạt mà mỗi hữu tình hiểu theo ngôn ngữ và ước muốn của chúng. Năng lực thần thông của ý giác ngộ là tịnh chỉ nhất tâm như sau. Khi đức Đạo sư của chúng ta có ý niệm về thế gian thì tâm của các hữu tình khác, kể cả những con kiến, cũng hiểu được đức Như Lai muốn nói gì. Nhưng khi Ngài có một ý niệm siêu thế thì ngay cả những vị Bồ tát trong thân thể cuối cùng cũng không thể hiểu được tư tưởng của Phật. Khi đức Phật giảng kinh Bát nhã ba la mật, Ngài làm cho tất cả các thế giới đều trở thành thanh tịnh. Bởi thế tâm Phật có vô lượng đức tốt lành.
Nhưng đức từ bi của Ngài được vị Dalai Lama thứ bảy mô tả như sau:
Một người có thể ác độc đối với Ngài,
Người khác có thể giận dữ muốn giết Ngài
Nhưng Ngài luôn luôn nghĩ đến chúng sinh
Như con của Ngài
Ngài đã tránh xa
Tất cả những tư tưởng làm hại
Lòng yêu mến mà ta có đối với chính bản thân
Cũng không thể sánh với đức bi mẫn trong tâm Ngài.
Nói cách khác, loại tình yêu mà ta có đối với bản thân không thể sánh với dù chỉ một phần của tình yêu đức Phật đối với loài hữu tình. Lại nữa tình yêu của Ngài không như lòng thương xót “có cơn” như chúng ta: chúng ta chỉ cảm thấy thương xót khi ta trông thấy một hữu tình đau khổ, và không cảm thấy thương xót khi khuất mắt. Một Đức Phật luôn luôn thấy được tất cả hữu tình đang đau khổ; bởi thế lòng từ bi bao la của Ngài đối với chúng không bao giờ gián đoạn mà luôn luôn vận hành. Lòng bi mẫn của một Đức Phật là hậu quả của năng lực quen tập luyện từ khi Ngài mới bước vào đạo lộ. Điều này là ý nghĩa của bài kệ trong quyển 150 bài tán Phật:
Tất cả những chúng sinh này không khác gì nhau
Chúng đều bị vọng tưởng trói buộc
Ngài đã bị trói buộc từ lâu bởi lòng bi mẫn
Và sẽ giải thoát những chúng sinh mê lầm
Trong quyễn Những Bài Thơ Về Con Người Chân Thật:
Tâm của tất cả hữu tình luôn luôn bị che phủ
Bởi bóng tối vô minh
Bậc đại thánh thấy được
Tất cả chúng sinh trong ngục tù sinh tử và phát tâm đại bi.

Trả lời với trích dẫn