DIỄN ĐÀN PHẬT PHÁP THỰC HÀNH - Powered by vBulletin




Cùng nhau tu học Phật pháp - Hành trình Chân lý !            Hướng chúng sinh đi, hướng chúng sinh đi, để làm Phật sự không đối đãi.


Tánh Chúng sinh cùng Phật Quốc chỉ một,
Tướng Bồ Đề hóa Liên hoa muôn vạn.

Trang 6/9 ĐầuĐầu ... 45678 ... CuốiCuối
Hiện kết quả từ 51 tới 60 của 86
  1. #51
    Ban Điều Hành Avatar của cunconmocoi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    830
    Thanks
    290
    Thanked 344 Times in 248 Posts
    CỘI NGUỒN TRUYỀN THỪA
    CHƯƠNG II _ YẾU CHỈ THIỀN TÔNG
    __________________________________________________ ______________________________________


    18.- CHẤP THẬT “NGŨ UẨN GIAI KHÔNG” THÀNH BỆNH.

    “Ngũ uẩn giai không" là nói sau khi Kiến tánh, Ngũ uẩn đều biến thành Phật tánh, đầy khắp hư không, vạn tượng sum la đều là Phật tánh, nên Kinh nói “SẮC chẳng khác với KHÔNG, KHÔNG chẳng khác với SẮC; SẮC tức là KHÔNG, KHÔNG tức là SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, đều cũng như thế".

    Một số người tu hành cho là chẳng chấp trước tất cả tướng, chẳng trụ tất cả tướng, đối cảnh vô tâm, tất cả vô ngại gọi là ngũ uẩn giai không, ấy là sai lầm lớn. Chẳng chấp chấp trước tất cả tướng, chẳng trụ tất cả tướng, đối cảnh vô tâm, tất cả vô ngại là mặc kệ cho ngũ uẩn khởi hay diệt, chẳng màng đến nó, nhưng ngũ uẩn vẫn là ngũ uẩn, chưa biến thành Phật tánh, nó vẫn hay làm việc xấu. Nếu ông suốt ngày phải giữ cái niệm “chẳng màng đến nó” không buông, há chẳng tự làm cho tâm mình lao nhọc, đâu thể vô tâm vô ngại mà được ngũ uẩn giai không ư!

    19.- CHẤP THẬT “CHƠN NHƯ DUYÊN KHỞI” THÀNH BỆNH.

    Một số người nói: “Chơn như vốn chẳng động, vì chẳng giữ bản tánh, nên nhất niệm bất giác bèn khởi vọng niệm, tạo tội làm phước, luân hồi sanh tử, nếu nhất niệm giác ngộ Chơn tâm, trở lại thường giữ gìn chẳng biến đổi thì chẳng bị luân hồi, gọi là thành Phật. Ấy là kiến giải của Ngoại đạo.

    Bản thể chơn như vốn viên mãn sẵn sàng, chẳng biến đổi. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Ví như Chơn như, thường giữ bản tánh, chẳng có biến đổi”, nếu Chơn như mà có biến đổi tức là pháp sanh diệt. Đại Thừa Khởi Tín Luận nói “Chơn như duyên khởi”, chỉ bốn chữ này có thể phán đoán rằng luận này là do Ngoại đạo ngụy tác, gán tên Ngài Mã Minh để truyền bá. Tại sao? Vì chơn như chẳng có duyên khởi, chẳng bị huân nhiễm, nếu có duyên khởi thì phải có sanh diệt, pháp sanh diệt nhất định chẳng phải Phật pháp vậy.

    20.- CHẤP THẬT “TÁNH LÀ KHÔNG, TÂM LÀ VỌNG” THÀNH BỆNH.

    “Tánh là không, Tâm là vọng” là nói Phật tánh đầy khắp hư không, chẳng thể dùng bộ não để nhận biết, những gì có thể nhận biết đều là vọng tưởng, Một số người hiểu lầm ý này, cho có tư tưởng đều là vọng tâm, đem vọng tâm dứt sạch thành Không, tức là kiến tánh thành Phật. Nếu dạy người như thế này là lọt vào đoạn kiến của Ngoại đạo, tội lỗi chẳng phải nhỏ.

    Còn Cha gót đỏ như son,
    Không Cha đầu cổ mình con lấm bùn !

  2. #52
    Ban Điều Hành Avatar của cunconmocoi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    830
    Thanks
    290
    Thanked 344 Times in 248 Posts
    CỘI NGUỒN TRUYỀN THỪA
    CHƯƠNG II _ YẾU CHỈ THIỀN TÔNG
    __________________________________________________ ______________________________________


    21.- CHẤP THẬT “ĐÃ SANH LÀ VỌNG, CHƯA SANH LÀ TÂM” THÀNH BỆNH.

    Có người truyền khẩu quyết Thiền rằng: “Đã sanh là vọng, chưa sanh là tâm”, cho rõ được hai này thì được ngộ đạo thành Phật, ấy là lời yêu quái, quyết chẳng thể tin. “Đã sanh” là nhất niệm vô minh, tất nhiên là vọng, “chưa sanh” là vô thỉ vô minh, cũng chưa lìa vọng, đều chẳng phải chơn Tâm.

    22.- CHẤP THẬT “CHUYỂN THỨC THÀNH TRÍ” THÀNH BỆNH.

    Người tu Pháp môn Duy Thức: Điều cần nhất là tìm ra chủng tử vô thỉ vô minh đã tiềm ẩn nơi A Lại Da thức (tức Bạch tịnh thức) đập cho tan nát thì Bát thức được Bát giải thoát, Tam tánh biến thành Tam vô tánh, Bát Thức biến thành tứ Trí, sau khi chuyển Thức thành Trí, chẳng trở lại làm Thức.

    Khi chưa chuyển Thức thành Trí thì bị A Lại Da Thức làm chủ, khi đã chuyển Thức thành trí Thì chơn như Phật tánh làm chủ, chơn như Phật tánh chẳng biến đổi nên thành Phật rồi chẳng trở lại thành chúng sanh, chẳng bị luân hồi. Một số người tu hành lầm nhận cho một niệm mê là Thức, một niệm ngộ là Trí, chuyển Thức thành Trí là đem cái niệm mê chuyển thành cái niệm ngộ, ấy là sai lầm lớn, cái tâm niệm biến đổi chẳng định, nếu suốt ngày bỗng mê bỗng ngộ, bỗng Trí bỗng Thức, có lúc là Phật, có lúc lại là chúng sanh, vậy thành Phật có giá trị gì?

    23.- CHẤP THẬT “TỰA HỮU PHI HỮU, TỰA KHÔNG PHI KHÔNG” THÀNH BỆNH.

    Có một số người tu hành buông bỏ vạn duyên tĩnh tọa quán tâm, quán đến cảnh giới “tựa hữu phi hữu, tựa không phi không", như thế cho là chẳng lọt nhị biên, chẳng trụ hữu vô, là cảnh giới Phật tánh, ấy là sai lầm lớn. “Tựa hữu phi hữu, tựa không phi không" là tác dụng của bộ não, chẳng phải Phật tánh, bản thể Phật tánh dùng bộ não suy lường thì chẳng thể đến. Lục Tổ nói: “Dẫu cho tận sức đo lường, lại càng xa xôi”, người tu hành chớ nên dùng bộ não để đo lường Phật tánh, chỉ có thể dùng bộ não tìm ra vô thỉ vô minh rồi một búa đập nát, thì Phật tánh tự nhiên hiển hiện.

    Còn Cha gót đỏ như son,
    Không Cha đầu cổ mình con lấm bùn !

  3. #53
    Ban Điều Hành Avatar của cunconmocoi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    830
    Thanks
    290
    Thanked 344 Times in 248 Posts
    CỘI NGUỒN TRUYỀN THỪA
    CHƯƠNG II _ YẾU CHỈ THIỀN TÔNG
    __________________________________________________ ______________________________________


    24.- CHẤP THẬT “CHẲNG CẦU CHƠN, CHẲNG DỨT VỌNG” THÀNH BỆNH.

    Chứng Đạo Ca nói: “Chẳng cầu chơn, chẳng dứt vọng, liễu tri hai pháp vốn chẳng tướng”. Một số người tu hành cho là chẳng cầu chơn tâm, cũng chẳng dứt vọng niệm, chơn vọng mặc nó tức là công phu đến mức, ấy là sai lầm lớn. “Chẳng cầu chơn” là nói Phật tánh chẳng thể cưỡng cầu, chơn với vọng là tương đối, vì có vọng mới nói có chơn, bản thể Phật tánh vốn chẳng chơn vọng, nên chơn chẳng thể cầu, vọng cũng chẳng cần dứt, hai tướng chơn vọng vốn không. Nếu cho chơn niệm, vọng niệm đều chẳng màng đến, ấy là lọt vào bệnh Nhậm (bệnh mặc kệ), càng mặc kệ thì càng mơ hồ, dụng công như thế này giống như nấu cát làm cơm, đâu thể thành tựu!.

    25.- CHẤP THẬT “TRUNG ĐẠO” THÀNH BỆNH.

    Một số người cho “niệm trước đã diệt, niệm sau chưa khởi, giữa niệm trước với niệm sau tức là Trung đạo”, lại nói “Chẳng lập nhị biên, chẳng chấp hữu vô tức là Trung đạo” ấy là sai lầm lớn. Niệm trước đã diệt, niệm sau chưa khởi, giữa niệm trước niệm sau là Vô ký không, chẳng lọt nhị biên, chẳng chấp hữu vô là bệnh mặc kệ, đều là tác dụng của bộ não, chẳng phải Trung đạo. Trung đạo là Chơn như Phật tánh. Kinh Niết Bàn nói: “Trung đạo gọi là Phật tánh, do nghĩa này Phật tánh luôn luôn chẳng có biến đổi, nếu chẳng đắc Đệ nhất nghĩa không, thì chẳng thành Trung đạo”. Lục Tổ nói: “Hai chữ Phật tánh là ở nơi phàm phu mà chẳng bớt, ở nơi Thánh Hiền mà chẳng thêm, trụ nơi phiền não mà chẳng loạn, ngay nơi Thiền định mà chẳng tịch, chẳng đoạn, chẳng thường, chẳng khứ, chẳng lai, chẳng ở khoảng giữa và bên trong bên ngoài, chẳng sanh, chẳng diệt, tánh tướng như như thường trụ chẳng dời, ấy gọi là Đạo”.

    26.- CHẤP THẬT LỜI THÍ DỤ “NƯỚC VỚI SÓNG” THÀNH BỆNH.

    Đại Thừa Khởi Tín Luận lấy nước dụ cho Chơn như, lấy sóng dụ cho sanh diệt, ấy là sai lầm. Chơn như là bản thể của Phật tánh, sanh diệt là tác dụng vọng tưởng của bộ não, hai thứ chẳng dính dáng với nhau, Chơn như là Như như bất động, chẳng có biến đổi, chẳng khởi vọng niệm, nếu Chơn như hay khởi vọng niệm sanh diệt như nước nổi làn sóng thì Chơn như cũng có sanh diệt luân hồi, chẳng phải bản thể cùng tột của Phật tánh. Kinh Lăng Già dùng nước biển dụ cho thức thứ tám, làn sóng dụ cho thức thứ bảy mới đúng với chánh lý, nên nói Đại Thừa Khởi Tín Luận là tác phẩm của Ngoại đạo.

    Ngài Khuê Phong lấy băng nước dụ cho vọng tâm với Phật tánh là xuất phát từ Khởi Tín Luận cũng là sai lầm. Nói vọng niệm khởi như nước đóng thành băng, vọng niệm diệt như tan băng thành nước, ấy là sai lầm, trong Phật tánh vốn chẳng vọng niệm, cũng chẳng khởi vọng niệm, nói nước đóng thành băng, băng tan thành nước, đóng tan bất thường là pháp sanh diệt, chơn như Phật tánh thì chẳng sanh chẳng diệt, nên chữ NƯỚC chỉ có thể dụ cho linh tánh của kiến, văn, giác, tri, chứ chẳng thể dụ cho Phật tánh.

    Còn Cha gót đỏ như son,
    Không Cha đầu cổ mình con lấm bùn !

  4. #54
    Ban Điều Hành Avatar của cunconmocoi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    830
    Thanks
    290
    Thanked 344 Times in 248 Posts
    CỘI NGUỒN TRUYỀN THỪA
    CHƯƠNG II _ YẾU CHỈ THIỀN TÔNG
    __________________________________________________ ______________________________________


    27.- CHẤP THẬT “TÂM VỚI PHÁP ĐỀU QUÊN LÀ PHÁ NGÃ CHẤP VÀ PHÁP CHẤP” THÀNH BỆNH.

    Một số người cho “Tâm với Pháp đều quên thì Ngã chấp, Pháp chấp đã bị phá tức là Phật tánh” ấy là sai lầm. Tâm cùng Pháp đều quên là Vô ký không; Ngã chấp, Pháp chấp đã phá là lọt vào Không chấp, tức là hầm sâu vô minh, đáy thùng sơn đen, chẳng phải Phật tánh, phải phá luôn Không chấp rồi mới thấy được Phật tánh. Phật tánh là Chơn tri giác (Bản tri bản giác), Tâm Pháp đều quên là cảnh giới say sưa của bộ não, hai thứ khác nhau.

    28.- CHẤP THẬT “HUNG TRUNG BẤT LƯU NGUYÊN TỰ CƯỚC” THÀNH BỆNH.

    Người xưa nói “Hung trung bất lưu nguyên tự cước” (ở trong lòng chẳng còn bước chân đầu tiên) tức "ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt", ý nói một chữ chẳng còn, kỳ thật chơn như Phật tánh chẳng phải suy nghĩ văn tự có thể đến, phàm còn suy nghĩ văn tự đều là kiến, văn, giác, tri, chẳng thể Kiến Tánh.

    Người ta thường hiểu lầm “Hung trung bất lưu nguyên tự cước” là khán một niệm đầu tiên từ đâu sanh khởi, diệt một niệm này chẳng còn dấu tích tức gọi là “Hung trung bất lưu nguyên tự cước”, ấy là hiểu lầm. Kỳ thật “một niệm chẳng còn” là lạc nơi vô thỉ vô minh, vì niệm khởi niệm diệt đều là tác dụng của bộ não chẳng dính dáng với Phật tánh, nếu quả thật ngộ đạo, đã Minh Tâm Kiến Tánh thì niệm khởi niệm diệt đều là Phật tánh, nên gọi “Niệm đồng vô niệm”, đâu cần dứt nó mà nói một niệm chẳng còn!

    29.- CHẤP THẬT “LÌA VỌNG DUYÊN TỨC NHƯ NHƯ PHẬT” THÀNH BỆNH.

    Ngài Bá Trượng nói: “Hễ lìa vọng duyên, tức như như Phật", ý nói bản thể chơn như chẳng thọ huân nhiễm, chẳng chỗ phan duyên, tự tánh như như, chẳng có chơn vọng, nên vọng duyên chẳng lìa mà tự lìa. Nay người ta hiểu lầm cho là hễ lìa vọng duyên tức là Ngộ đạo, lý này chẳng đúng, vọng duyên, chơn duyên đều là tác dụng của bộ não, nếu còn bộ não thì vọng duyên chẳng thể lìa. Thật ra vọng duyên của bộ não với Chơn như Phật tánh vốn chẳng dính dáng, người Ngộ thì chẳng lìa tự lìa, kẻ chưa Ngộ dù lìa cũng chẳng thể lìa, biết như thế thì mới có thể xem Ngữ lục của Tổ Sư.

    30.- LẦM NHẬN “CHỨNG VÔ SANH PHÁP NHẪN” THÀNH BỆNH.

    Có người nói “Chứng Vô sanh nhẫn chẳng phải Kiến Tánh, còn phải tu nữa mới được thành Phật", ấy là sai lầm. Kỳ thật chứng Vô sanh nhẫn tức là thấy Phật tánh, chứng là chứng ngộ, Vô sanh là chẳng sanh chẳng diệt, nhẫn là muôn đức viên mãn, nói cách khác tức là chứng ngộ Phật tánh chẳng sanh chẳng diệt, là cảnh giới viên mãn. Kinh Lăng Già nói “Chứng Vô sanh nhẫn rồi thì được Ý Sanh Thân có thể làm chứng vậy.

    Còn Cha gót đỏ như son,
    Không Cha đầu cổ mình con lấm bùn !

  5. #55
    Ban Điều Hành Avatar của Thanh Trúc
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    1.200
    Thanks
    839
    Thanked 1.143 Times in 448 Posts
    Quote Nguyên văn bởi cunconmocoi Xem bài viết
    CỘI NGUỒN TRUYỀN THỪA
    CHƯƠNG II _ YẾU CHỈ THIỀN TÔNG
    __________________________________________________ ______________________________________


    30.- LẦM NHẬN “CHỨNG VÔ SANH PHÁP NHẪN” THÀNH BỆNH.

    Có người nói “Chứng Vô sanh nhẫn chẳng phải Kiến Tánh, còn phải tu nữa mới được thành Phật", ấy là sai lầm. Kỳ thật chứng Vô sanh nhẫn tức là thấy Phật tánh, chứng là chứng ngộ, Vô sanh là chẳng sanh chẳng diệt, nhẫn là muôn đức viên mãn, nói cách khác tức là chứng ngộ Phật tánh chẳng sanh chẳng diệt, là cảnh giới viên mãn. Kinh Lăng Già nói “Chứng Vô sanh nhẫn rồi thì được Ý Sanh Thân có thể làm chứng vậy.

    Xin phép Quý Đạo Hữu, Quý Trưởng Bối, anh Cunconmocoi !

    Theo dõi từ đầu đến đây, Thanh Trúc thấy đa số lời phát biểu của Thiền sư Nguyệt Khê đều là "lương dược", riêng câu 30 này T/T thấy sai, vì nhớ lại trong Kinh, sau những lần Phật thuyết pháp, thường có 500 người hoặc 1000 người chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, mà những vị ấy sau đó vẫn không được tính là đã đắc quả Giải Thoát Sinh Tử Luân Hồi (A La Hán).

    Kính !



    Suốt ngày gặt lúa trên đồng,
    mà trong kho lẫm vẫn không có gì.

  6. The Following 2 Users Say Thank You to Thanh Trúc For This Useful Post:

    chimvacgoidan (05-16-2018),cunconmocoi (05-16-2018)

  7. #56
    Ban Điều Hành Avatar của cunconmocoi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    830
    Thanks
    290
    Thanked 344 Times in 248 Posts
    CỘI NGUỒN TRUYỀN THỪA
    CHƯƠNG II _ YẾU CHỈ THIỀN TÔNG
    __________________________________________________ ______________________________________


    31.- LẦM NHẬN “VÔ TỰ GIÁP Ý” THÀNH BỆNH.

    Tổ Sư ngày xưa thường khuyên người chớ trụ nơi “vô tự giáp lý” (trống rỗng chẳng có vật gì), “vô tự giáp” tức biệt danh của hầm sâu vô minh, đáy thùng sơn đen, là cảnh giới vô thỉ vô minh, trống rỗng chẳng có gì cả. Cảnh này rất kiên cố khó phá, nên gọi là vô tự giáp (giáp nghĩa là thiết giáp của chữ vô). Ngưòi tu hành đến cảnh giới vô thỉ vô minh, chớ nên sợ khó mà lui sụt, cần phải nổ lực xung phong, xung phá vô tự giáp, liền được kiến tánh thành Phật.

    32.- CHẤP THẬT “VẠN PHÁP DUY TÂM, NGOÀI TÂM CHẲNG PHÁP” THÀNH BỆNH.

    Phật với Pháp chẳng đồng, Phật là tuyệt đối, chơn như; pháp là tương đối, vọng tưởng, phàm tất cả pháp đều là vô minh vọng tâm sở tạo, nên nói vạn pháp duy tâm, ngoài tâm chẳng pháp. Nói duy tâm là một vọng tâm tạo ra, nên điều thứ sáu trong mươi tám pháp Bất cộng nói “Chẳng có sự đã biết mà không bỏ”, vạn pháp đã biết phải bỏ liền, vì đó là vọng tâm, vọng tâm biến đổi vô thường, nên pháp cũng vô thường, gọi là nhân duyên, cũng gọi là phương tiện.

    Phật thuyết pháp dụ như chiếc bè qua sông, đến bờ thì phải bỏ bè, vì pháp ấy là vọng, biết pháp vọng mà vẫn còn thuyết là muốn dùng vọng trừ vọng, dùng huyễn phá huyễn, chẳng thuyết thì chẳng thể độ chúng sanh, chẳng bỏ thì phải bị pháp trói, chẳng thể thành Phật. Nên nói “Chẳng có một chút pháp để đắc được", lại nói “Ta thuyết pháp 49 năm chưa từng thuyết một chữ”, vì lời nói văn tự với bản thể chơn như vốn chẳng dính dáng, bản thể chơn như vốn chẳng tên gọi mà gượng gán tên là Phật, chữ Phật nên bỏ, vì đó là giả danh, bản tánh của Phật chẳng bỏ, vì đó là chơn thể, đã được cái chơn thì chữ Phật là dư, nên Ngài Triệu Châu nói: “Một chữ Phật ta chẳng muốn nghe, lão Tăng niệm Phật một tiếng súc miệng ba ngày”. Mã Tổ nói: “Phi tâm, phi Phật, chữ Phật còn nên bỏ, huống chi là pháp!”.

    Phật và pháp đều phá, tương đối đã tẩy sạch thì nhất chơn nhất thiết chơn, Phật cũng chơn, pháp cũng chơn, tất cả đều là Phật tánh, đều là chơn tâm, lúc bấy giờ nói “Vạn pháp duy tâm, ngoài tâm chẳng pháp” thì đúng. Đồng một chữ TÂM, xưa vọng nay chơn; cùng một lời nói, trước sai sau đúng, chữ thì mỗi mỗi đồng nhau mà ý nghĩa thì hoàn toàn khác hẳn, nên Phật pháp rất khó hiểu là vậy, xin người học hãy cẩn thận.

    Còn Cha gót đỏ như son,
    Không Cha đầu cổ mình con lấm bùn !

  8. #57
    Ban Điều Hành Avatar của cunconmocoi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    830
    Thanks
    290
    Thanked 344 Times in 248 Posts
    CỘI NGUỒN TRUYỀN THỪA
    CHƯƠNG II _ YẾU CHỈ THIỀN TÔNG
    __________________________________________________ ______________________________________


    33.- NHẬN LẦM “NGỒI NHẬP ĐỊNH NHƯ CÂY KHÔ” THÀNH BỆNH.

    Nói “nhập định” là pháp dụng công của người Tiểu thừa, ngồi lâu như cây khô để đoạn dứt suy nghĩ của lục căn, dụng công của người Đại thừa chẳng trụ tâm, chẳng khán tịnh, chẳng trầm không, chẳng nhập định. Nay thường có một số người xuất gia hoặc tại gia, ngồi không như cây khô, mười hôm, tám hôm chẳng ăn cơm, giống như ông Địa, gọi là nhập định, cho dụng công như thế thì được thành Phật, ấy là sai lầm lớn.

    Xưa kia Trí Hoàng Thiền Sư ngồi mãi trong am 20 năm, Huyền Sách Thiền Sư đến Am hỏi: “Ông ở đây làm gì?”. Hoàng nói: “Nhập định”. Sách nói: “Ông nói nhập định là có tâm nhập hay vô tâm nhập? Nếu vô tâm nhập thì tất cả vô tình, cây cối, ngói đá đều được đắc định; nếu có tâm nhập thì tất cả chúng sanh hữu tình cũng phải đắc định”. Hoàng nói: “Khi tôi đang nhập định chẳng thấy có tâm hữu hay vô”. Sách nói: “Chẳng thấy có tâm hữu hay vô tức là thường định, đâu có xuất nhập? Nếu có xuất nhập thì chẳng phải đại định”. Hoàng chẳng thể trả lời, giây lâu nói: “Sư nối pháp ai?”. Sách nói: “Thầy tôi”. Lục Tổ nói: “Diệu trạm viện tịch, thể dụng như như, ngũ uẩn vốn không, lục trần phi hữu, chẳng xuất chẳng nhập, chẳng định, chẳng loạn, tánh thiền vô trụ, lìa trụ nơi thiền định, tánh thiền vô sanh, lìa sanh có thiền tưởng. Tâm như hư không, cũng chẳng có số lượng của hư không". Bởi sau khi kiến tánh, tự tánh như như bất động, đi, đứng, nằm, ngồi, mặc áo, ăn cơm, tất cả đều ở trong định ấy mới là Đại định.

    Hoài Nhượng Thiền Sư truyện ghi trong Truyền Đăng Lục rằng: Có Sa Môn Đạo Nhất ở Viện Truyền Pháp suốt ngày tọa thiền, Sư đến hỏi: “Đại Đức tọa thiền muốn làm gì?”. Nhất nói: “Muốn làm Phật". Sư lấy cục gạch mài trước cửa Am. Nhất hỏi: “Mài gạch làm gì?”. Sư nói: “Mài làm gương”. Nhất nói: “Mài gạch đâu thể thành gương!”. Sư nói: “Mài gạch chẳng thể thành gương thì tọa thiền đâu thể thành Phật!”. Nhất nói: “Vậy phải làm thế nào?”. Sư nói: “Như bò kéo xe chẳng chịu đi, đánh xe phải hay đánh bò phải?”. Nhất không đáp được. Sư nói: “Ông học ngồi thiền hay là học làm Phật? Nếu học ngồi thiền thì Thiền chẳng phải ngồi nằm; nếu học làm Phật thì Phật chẳng có tướng nhất định, nơi pháp vô trụ, chẳng nên thủ xã. Ông nếu ngồi Phật tức là giết Phật, nếu chấp tướng ngồi thì chẳng đạt lý đạo”. Nhất nghe Sư dạy bảo như uống đề hồ.

    Ngài Lâm Tế nói: “Ta nói bên ngoài chẳng có pháp, người học chẳng lãnh hội, lại hiểu lầm cho là bên trong, liền hướng vách ngồi không, lưỡi để hàm trên, tuyệt nhiên chẳng động, cho đó là Phật pháp của chư Tổ, rất là sai lầm.

    Một số người nhận lầm tham thiền phải lúc tĩnh tọa mới tham, ấy là sai lầm.Tham thiền chẳng phân biệt đi, đứng, nằm, ngồi. Mã Tổ nói: “Tham thiền chẳng chấp ngồi, chấp ngồi tức bị dính mắc”. Kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Kẻ mê kẹt nơi pháp tướng, chấp Nhất hạnh Tam muội, cứ nói thường ngồi chẳng động, vọng tâm chẳng khởi tức là Nhất hạnh Tam muội, hiểu như thế này tức đồng như vô tình, lại thành nhân duyên chướng đạo”.

    Còn Cha gót đỏ như son,
    Không Cha đầu cổ mình con lấm bùn !

  9. #58
    Ban Điều Hành Avatar của cunconmocoi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    830
    Thanks
    290
    Thanked 344 Times in 248 Posts


    Cội Nguồn Truyền Thừa (6)

    PHƯƠNG PHÁP TU TRÌ CỦA THIỀN TÔNG


    Tác giả: Nguyệt Khê Thiền Sư - Dịch Giả: Thích Duy Lực






    Còn Cha gót đỏ như son,
    Không Cha đầu cổ mình con lấm bùn !

  10. #59
    Ban Điều Hành Avatar của cunconmocoi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    830
    Thanks
    290
    Thanked 344 Times in 248 Posts
    CỘI NGUỒN TRUYỀN THỪA
    CHƯƠNG II _ YẾU CHỈ THIỀN TÔNG
    __________________________________________________ ______________________________________


    34.- CHẤP “BẤT ĐẢO ĐƠN” THÀNH BỆNH.

    Trong Tùng lâm có một số hành giả ngồi mãi chẳng nằm, gọi là "bất đảo đơn". Dù nói bất đảo đơn, lại ngồi đó ngủ gục, cho đó là công phu nổi bật, sai lầm biết bao.

    Theo giới luật của Phật, Tỳ Kheo tu hành bốn việc đầy đủ là: quần áo, ăn uống, ngọa cụ, y dược, vậy chứng tỏ Phật chẳng dạy người bất đảo đơn. Nếu ngồi mà ngủ gục, sao chẳng nằm xuống ngủ một giấc ngon, cho tinh thần đầy đủ rồi công phu lại! Có người chê cười kẻ bất đảo đơn là nhập định bí đao, chưa nhập định đã biến thành bí đao, dù thành Phật có ích lợi gì!

    Ngài Lâm Tế nói: “Dẫu cho ở cô độc trên đỉnh núi, ngày ăn một bữa, ngồi mãi chẳng nằm, suốt ngày hành đạo, đều là người tạo nghiệp, cho đến đem đầu, mắt, tủy, não, gia tài, vợ con, voi, ngựa, thất bửu thảy đều bố thí, có kiến giải như thế đều là tự làm khổ cho thân tâm, lại tự chiêu cảm quả khổ, chẳng bằng người vô sự chẳng làm việc gì, thuần nhất chẳng nhiễm, như Thập Địa Mãn Tâm Bồ Tát đều cầu đạo này, tìm dấu tích trọn bất khả đắc, cho nên chư Thiên hoan hỷ, địa Thần ôm chân, mười phương chư Phật cùng nhau tán thán. Tại sao như thế? Vì đạo nhơn này chỗ dùng chẳng dấu tích”.

    Phật Nhãn Thiền Sư nói: “gần đây có người chỉ ham ngồi, ban sơ thì tỉnh bơ, ngồi lâu thì ngủ gục, mười người có chín người ngồi ngủ gục, luôn luôn chẳng chịu hạ thủ công phu tham cứu, đạo này đâu thể trong ngồi ngủ mà ngộ được! Những người như thế làm sao hội được. Đơn Hà dựng phất trần, Bàng cư sĩ giơ cây búa, Đơn Hà quăng phất trần, cư sĩ buông cây búa xuống! Lại nói: “Công án hôm qua như thế nào? Đơn Hà nằm xuống, cư sĩ liền ra đi, việc này nếu chẳng phải người người tri âm chơn thật, đâu thể cho ông chú giải bậy bạ được!”.

    Lại Ngài Nham Đầu nói: “Bậc Sa Môn tất cả đều nên mỗi mỗi từ trong lòng mình lưu xuất, che Thiên ngập Địa mới được, đâu thể do tĩnh tọa suy nghĩ mà được đâu!”. Tiên Sư (Pháp Diễn Thiền Sư) nói: “Lúc ngủ lúc ngủ tham cứu, lúc ăn cơm lúc ăn cơm tham cứu”. Lại người xưa nói: “Lúc ngồi có đạo lý lúc ngồi, lúc đứng có đạo lý lúc đứng”, há chẳng thấy Đầu Tử hỏi Thúy Vi rằng: “Mật chỉ từ Ấn đến, có thể cho nghe chăng?”. Thúy Vi đứng đó ngó nhìn, Đầu Tử nói: “Đêm mai nói nữa, xin Sư tái chỉ”. Thúy Vi nói: “Còn muốn thêm gáo nước độc thứ hai chi nữa!”. Đầu Tử liền ngộ. Thế thì các ngươi chẳng được thọ dụng là tại ngày đêm ngồi không, bỏ qua việc tốt biết bao!

    Còn Cha gót đỏ như son,
    Không Cha đầu cổ mình con lấm bùn !

  11. #60
    Ban Điều Hành Avatar của cunconmocoi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    830
    Thanks
    290
    Thanked 344 Times in 248 Posts
    CỘI NGUỒN TRUYỀN THỪA
    CHƯƠNG II _ YẾU CHỈ THIỀN TÔNG
    __________________________________________________ ______________________________________


    35.- THAM THIỀN LẦM NHẬN “CHĂN TRÂU” LÀ DỤNG CÔNG.

    “Chăn trâu” là sau khi đã kiến tánh dùng để tẩy trừ tập khí, điều chỉnh tánh tình, chẳng phải là tu hành. Bởi khi đã kiến tánh, nhất ngộ vĩnh ngộ, chẳng cần tu nữa, nhưng vẫn còn tập khí từ vô thỉ chưa dứt sạch, nên cần phải điều chỉnh lại. Qui Sơn Hòa Thượng nói: “Các người nếu đã hoát nhiên thông suốt thì tu với chẳng tu là lời hai đầu, chỉ cần trừ bỏ tập khí gọi là tu”.

    Xưa kia trong hội Qui Sơn có Đại An Thiền Sư nói: “Ta ở Qui Sơn 30 năm, ăn cơm Qui Sơn, ỉa cứt Qui Sơn mà chẳng học Thiền Qui Sơn, chỉ chăn một con trâu, nếu lạc đường vào đám cỏ liền kéo ra, nếu phạm lúa mạ của người, liền lấy roi điều phục, như thế lâu ngày, nay biến thành con lộ địa bạch ngưu (Chơn như Phật tánh), thường ở trước mắt, suốt ngày luôn luôn hiển lộ rõ ràng (Phật tánh hiện hành), đuổi cũng chẳng đi”. Phổ Minh Thiền Sư Mục Ngưu Đồ, lấy vọng niệm dụ cho con trâu, Phật tánh dụ cho người chăn, vọng niệm khởi như con trâu chạy bậy, đem vọng niệm sửa lại thành chánh niệm như cỡi trâu về nhà, nói trở về bản nguyên, ấy là sai lầm. Con trâu dụ cho vọng niệm thì không sai, người chăn dụ cho Phật tánh thì sai, người chăn nên dụ cho kiến, văn, giác, tri, chẳng phải Phật tánh, Phật tánh chẳng khởi vọng niệm.

    Còn Cha gót đỏ như son,
    Không Cha đầu cổ mình con lấm bùn !

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Chủ đề tương tự

  1. Nguỵên cầu
    Gửi bởi Mây trắng trong mục Thơ văn liên quan Phật giáo
    Trả lời: 0
    Bài cuối: 10-31-2015, 08:49 AM
  2. Nhớ và Nguỵên
    Gửi bởi Nguyên Chiếu trong mục Thơ văn liên quan Phật giáo
    Trả lời: 0
    Bài cuối: 08-27-2015, 03:16 PM
  3. Suối Nguồn Từ Bi
    Gửi bởi lamebay trong mục Âm nhạc Phật giáo
    Trả lời: 0
    Bài cuối: 07-24-2015, 09:13 PM
  4. Truyện tiền thân đức Phật Thích Ca
    Gửi bởi ongmat trong mục Gương sáng tu học Phật pháp
    Trả lời: 4
    Bài cuối: 07-14-2015, 03:08 PM
  5. Cội nguồn của Mật Tông
    Gửi bởi cát bụi trong mục MẬT TÔNG
    Trả lời: 11
    Bài cuối: 05-29-2015, 10:53 AM

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •