DIỄN ĐÀN PHẬT PHÁP THỰC HÀNH - Powered by vBulletin




Cùng nhau tu học Phật pháp - Hành trình Chân lý !            Hướng chúng sinh đi, hướng chúng sinh đi, để làm Phật sự không đối đãi.


Tánh Chúng sinh cùng Phật Quốc chỉ một,
Tướng Bồ Đề hóa Liên hoa muôn vạn.

Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 21
  1. #1
    NỤ Avatar của lavinhcuong
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    410
    Thanks
    302
    Thanked 508 Times in 134 Posts
    ĐỜI THỨ HAI SAU THIỀN SƯ HOÀI NHƯỢNG

    PHÁP TỰ CỦA MÃ TỔ.



    1. THIỀN SƯ ĐẠI CHÂU HUỆ HẢI 大珠慧海, VIỆT CHÂU.



    Người ở Kiến Châu (Phước Kiến), họ Châu. Sư thọ nghiệp nơi Hòa thượng Đạo Trí, chùa Đại Vân Việt Châu.
    Ban đầu đến tham kiến Mã Tổ ở Giang Tây. Tổ hỏi:
    - Từ đâu đến?
    Đáp:
    - Từ chùa Đại Vân ở Việt Châu đến.
    Tổ hỏi:
    - Đến đây muốn cầu việc gì?
    Đáp:
    - Đến cầu Phật pháp.
    Tổ nói:
    - Kho báu nhà mình chẳng đối nghĩ, bỏ nhà chạy rông làm gì? Ta trong đây một vật cũng không, cầu Phật pháp nào?
    Sư bèn lễ bái, hỏi:
    - Cái gì là “kho báu nhà mình” của Huệ Hải?
    Tổ đáp:
    - Chính là cái hiện đang hỏi ta. Đó là kho báu của ông, đầy đủ tất cả hoàn toàn không có thiếu thốn, tự do sử dụng, cần gì hướng ngoại tìm cầu?
    Sư ngay lời nói tự biết bổn tâm, không do hiểu biết, hớn hở vui mừng lễ tạ.

    Sư ở hầu Tổ sáu năm, sau vì thầy thọ nghiệp tuổi già, Sư vội trở về phụng dưỡng. Sư ẩn vết tích giấu công dụng, bên ngoài thị hiện như ngây dại; Sư tự soạn một quyển Luận “Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn”, bị Huyền Yến là cháu trong pháp môn lén lấy đem ra khỏi Chiết Giang (Thiệu Hưng), trình Mã Tổ. Tổ xem xong bảo chúng:

    - Việt Châu có đại châu (viên ngọc lớn), tròn sáng thấu suốt tự tại, không chướng ngại.

    -----------

    Khi ấy ở trong chúng có người biết Sư họ Châu, lần lượt rồi nhiều người biết. Họ rủ nhau đến xứ Việt tìm hỏi và nương tựa Sư (Nhân lời Mã Tổ nói, người bấy giờ gọi Sư là Hòa thượng Đại Châu).
    Sư nói:
    - Chư thiền khách, tôi chẳng hội thiền, hoàn toàn không có một pháp để dạy người. Không nên phiền các ông đứng lâu, hãy tự thôi dứt đi.
    Bấy giờ học lữ đông dần, ngày đêm thưa hỏi. Việc bất đắc dĩ phải vừa hỏi vừa đáp, Sư biện tài vô ngại (Có quyển chép riêng trong Quảng Ngữ).

    -----------

    Bấy giờ có một số pháp sư đến yết kiến, hỏi:
    - Muốn nêu một câu hỏi, không biết thầy có thể đáp không?
    Sư nói:
    - Bóng trăng dưới đầm sâu mặc tình rút lấy.
    Hỏi:
    - Thế nào là Phật?
    Sư đáp:
    - Đầm nước trong trước mặt chẳng là Phật thì là gì?
    Chúng đều mờ mịt . Hồi lâu vị tăng ấy lại hỏi:
    - Thầy nói pháp gì độ người?
    Sư đáp:
    - Bần đạo chưa từng có một pháp độ người.
    Hỏi:
    - Nhà thiền sư chất phác như thế à?
    Sư hỏi lại:
    - Đại đức nói pháp gì độ người?
    Đáp:
    - Giảng kinh Kim Cang Bát Nhã.
    Sư hỏi:
    - Giảng mấy lần rồi?
    Đáp:
    - Hơn hai mươi lần.
    Sư hỏi:
    - Ai nói kinh đó?
    Tăng lên tiếng gắt gỏng:
    - Thiền sư khéo đùa nhau, đâu không biết Phật nói sao?
    Sư nói:
    - Nếu nói "Như Lai có nói pháp là chê bai Phật, người ấy chẳng hiểu nghĩa ta nói, nếu nói Kinh này không phải Phật nói là chê bai Kinh”. Mời đại đức nói xem.

    Nhược ngôn Như lai hữu sở thuyết pháp, tắc vi báng Phật, thị nhân bất giải ngã sở thuyết nghĩa. Nhược ngôn thử Kinh bất thị Phật thuyết, tắc thị báng Kinh.

    若言如來有所說法, 則為謗佛, 是人不解我所說義. 若言此經不是佛說,則是謗經.


    Tăng yên lặng không đáp được.
    Chốc lát Sư lại hỏi:
    - Kinh nói “Nếu lấy sắc thấy ta, lấy âm thanh cầu ta, người ấy hành tà đạo, không thể thấy Như Lai”. Đại đức hãy nói cái gì là Như Lai?

    Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như lai.

    若以色見我
    以音聲求我
    是人行邪道
    不能見如來


    Đáp:
    - Đến chỗ này tôi vẫn còn mê.
    Sư nói:
    - Từ nào đến giờ chưa ngộ, nói gì còn mê?
    Tăng nói:
    - Thỉnh thiền sư nói cho tôi nghe.
    Sư nói:
    - Đại đức giảng kinh trên hai mươi lần, còn chưa biết Như Lai.
    Tăng ấy lại lễ bái cầu xin chỉ dạy.
    Sư nói:
    - “Như Lai đó, là nghĩa như của các pháp”, đâu thể quên được?

    Như lai giả, thị chư pháp như nghĩa.

    如來者, 是諸法如義.


    Đáp:
    - Phải, là nghĩa như của các pháp.
    Sư nói:
    - Đại đức nói “phải” cũng chưa phải.
    Đáp:
    - Văn kinh rõ ràng đâu thể chưa phải.
    Sư hỏi:
    - Đại đức như chăng?
    Đáp:
    - Như.
    Sư hỏi:
    - Gỗ đá như chăng?
    Đáp:
    - Như.
    Sư hỏi:
    - Đại đức Như, đồng gỗ đá Như chăng?
    Đáp:
    - Không hai.
    Sư nói:
    - Đại đức cùng gỗ đá đâu khác!
    Tăng không đáp được. Hồi lâu lại hỏi:
    - Thế nào được Đại Niết bàn?
    Sư đáp:
    - Chẳng tạo nghiệp sanh tử.
    Hỏi:
    - Thế nào là nghiệp sanh tử?
    Sư đáp:
    - Cầu Đại Niết bàn là nghiệp sanh tử, bỏ dơ lấy sạch là nghiệp sanh tử, có đắc có chứng là nghiệp sanh tử, không vượt khỏi môn đối trị là nghiệp sanh tử.

    Cầu Đại Niết bàn thị sinh tử nghiệp, xả cấu thủ tịnh thị sinh tử nghiệp, hữu đắc hữu chứng thị sinh tử nghiệp, bất thoát đối trị môn thị sinh tử nghiệp.

    求大涅槃是生死業, 捨垢取淨是生死業, 有得有證是生死業, 不脫對治門是生死業.


    Hỏi:
    - Làm sao mới được giải thoát.
    Sư đáp:
    - Vốn tự không trói buộc chẳng cần giải thoát, dùng thẳng hành thẳng là vô đẳng đẳng.

    Bản tự vô phọc bất dụng cầu giải, trực dụng trực hành thị vô đẳng đẳng.

    本自無縛不用求解, 直用直行是無等等.


    Tăng nói:
    - Như Hòa thượng thiền sư đây thật là hiếm có.
    Tăng lễ tạ rút lui.
    *
    * *
    Có hành giả (cư sĩ) hỏi:
    - Tức tâm tức Phật, cái nào là Phật?
    Sư bảo:
    - Ông nghi cái nào chẳng phải là Phật, chỉ ra xem.
    Cư sĩ không đáp được. Sư nói:
    - Đạt thì khắp cảnh là Phật, chẳng ngộ hằng trái xa.

    ---------------

    Có luật sư hiệu Pháp Minh, nói với Sư:
    - Các thiền sư phần nhiều rơi vào không.
    Sư nói:
    - Trái lại các tòa chủ phần nhiều rơi vào không.
    Pháp Minh giật mình, hỏi:
    - Tại sao rơi vào không?
    Sư nói:
    - Kinh luận là giấy mực văn tự, giấy mực văn tự đều là không. Mượn ở âm thanh mà kiến lập các pháp, danh cú văn thân … đều là không. Tòa chủ chấp chặt hình thể giáo, đâu chẳng rơi vào không?
    Pháp Minh hỏi:
    - Thiền sư rơi vào không chăng?
    Sư đáp:
    - Chẳng rơi vào không.
    Hỏi:
    - Sao lại chẳng rơi vào không?
    Sư đáp:
    - Văn tự … đều từ trí tuệ mà sanh, đại dụng hiện tiền đâu thể rơi vào không?
    Pháp Minh nói:
    - Thế nên biết chẳng thành tựu nhất pháp, không gọi là tất đạt.
    Sư nói:
    - Luật sư không những rơi vào không mà còn dùng lầm danh ngôn.
    Pháp Minh lộ vẻ giận, hỏi:
    - Lầm ở chỗ nào?
    Sư nói:
    - Luật sư chưa rành phiên âm Hoa Phạn, làm sao giảng thuyết.
    - Thỉnh thiền sư chỉ ra chỗ lầm của Pháp Minh.
    Sư nói:
    - Há chẳng biết “tất đạt” là tiếng Phạn sao?
    Luật sư tuy biết lỗi, nhưng lòng vẫn còn giận.
    (Tiếng Phạn “Siddhārtha Gautama”, Trung Quốc dịch nghĩa là “Nhất thiết nghĩa thành”. Xưa dịch là “Tất đạt đa” còn sai sót, lược mất Phạn âm).
    Lại hỏi:
    - Phàm Kinh Luật Luận là lời Phật, đọc tụng y giáo phụng hành, sao chẳng kiến tánh?
    Sư đáp:
    - Như chó điên đuổi mồi, sư tử cắn người. Kinh Luật Luận là dụng của tự tánh, việc đọc tụng là pháp của tự tánh.
    Pháp Minh hỏi:
    - Phật A-di-đà có cha mẹ và họ không?
    Sư đáp:
    - Họ của A-di-đà là Kiều-thi-ca, cha tên Nguyệt Thượng mẹ tên là Thù Thắng Diệu Nhan.
    Hỏi:
    - Xuất xứ từ kinh điển nào?
    Sư đáp:
    - Từ tập Đà la ni.
    Pháp Minh lễ tạ, khen ngợi rồi lui.

    NAM MÔ ĐẠI TUỆ VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT

  2. The Following 2 Users Say Thank You to lavinhcuong For This Useful Post:

    hoatihon (06-30-2015),Thế Hùng (07-01-2015)

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •