Kinh :
“Lại nữa, thiện nam tử ấy đã cùng tột tánh không của Hành Ấm, đã diệt sanh diệt, nhưng chưa viên mãn trong chỗ tinh diệu của Tịch Diệt. Nếu nơi tánh Viên Thường củng cố cái thân cho thường trụ như tánh ấy, mãi không suy mất mà sanh thắng giải, thì người ấy sa vào cái chấp Tham Phi Tham, thành bè bạn của nhóm A Tư Đà, cầu được mạng sống lâu dài, mê muội Bồ Đề của Phật, bỏ mất Chánh Tri Kiến.
“Đó gọi là hạng Thứ Bảy, bám níu cái Mệnh Căn, lập cái Nhân Củng cố vọng thân hướng theo cái Quả Khổ nhọc lâu dài, trái xa tánh Viên Thông, đi ngược đạo Niết Bàn, sanh ra giống Vọng Diên(15).
Thông rằng :
Thoáng thấy tánh Viên Minh, bèn chấp theo tướng “Trống không trong cái sáng”. Thoáng thấy chỗ Viên Thường bèn chấp theo cái tướng Thường chẳng hư hoại. Chỗ này thì người trí cũng không tránh khỏi. Nhưng tánh Viên Minh chưa từng chẳng trống không, mà cái trống không đó chẳng thể chấp níu. Chấp nắm cái trống không ấy thì sa vào Không. Cái tánh thuần trong toàn vẹn chưa từng chẳng Thường, mà cái Thường kia không thể chấp níu. Chấp nắm cái Thường ắt chạy theo khổ nhọc.
Trang Tử nói “Đại khối làm nhọc ta vì cái sống”. Các cách tu luyện như gấu vươn vai, chim ngẩng cổ, nôn cũ thâu mới cũng là chuyện nhọc nhằn, nên gọi là “Khổ nhọc lâu dài”. Vả chăng, cái sắc thân bốn Đại này bị định nghiệp ràng buộc. Cái phân đoạn sanh tử chẳng thể làm cái biến dịch sanh tử, cái biến dịch chẳng thể làm cái phân đoạn. Thân vốn vô thường, thật chẳng thể tham mà nay lại bám níu muốn được lâu dài, nên gọi là cái chấp Tham Phi Tham. Tuy các vị tiên trường thọ có được cái thuật này mà chứng sự trường thọ chẳng qua là củng cố cái vọng thân mà thôi, đối với tánh Chân Thường không hư hoại rất là xa cách, nên gọi là trái xa tánh Viên Thông, đi ngược đạo Niết Bàn.
Bám níu Mạng Căn, lặng đứng cái Thức Tinh, lắng trong chẳng giao động bèn có thể vượt khỏi Vô Tưởng Thiên mà sanh cõi trời Phi Phi Tưởng. Đây gọi là hạng ngoại đạo Đệ Nhất ở Tây Vực, trọng việc củng cố thân cho thường trụ, cùng lắm là hết tám vạn kiếp lại lọt vào luân hồi. Thế thì sao có thể thường trụ ư ?
Tổ Huyền Sa nhân uống lầm thuốc, cả người đỏ rần, có nhà sư hỏi : “Thế nào là Pháp Thân kiên cố ?”
Tổ Sa nói : “Cõi đất mưa giọt lộp độp !”
Hòa Thượng Hoài tụng rằng :
“Nhểu nhểu suốt thân là mủ thối
Trên thuyền câu cá, hiển gia phong
Người đời chỉ ngó trên dây nhợ
Chẳng thấy hoa lan đối liễu hồng”.
Hòa Thượng Đoan nói : “Từng có người hỏi Ngài Pháp Hoa “Thế nào là thanh tịnh Pháp Thân ?”, thì Ngài chỉ đáp “Cứt thúi ngất trời”. Lại nói : “Trên lá hoa sen hóa làm trẻ nhỏ”. Thử nói là đồng hay khác với cổ nhân ?”
Ngài Pháp Hoa cũng có bài tụng :
“Cứt thúi ngất trời cũng ngẫu nhiên
Pháp Hoa đâu dám vì ông tuyên
Mũi kia mà có thông thiên khiếu(16)
Cứ việc hoành hành khỏi xỏ xiên”.
Ở đây, các vị tôn túc đối với cái Pháp Thân kiên cố trong đàm luận mà còn muốn nôn ra, huống gì cái sắc thân thô lậu này mà muốn giả dối kéo dài ư ?
Nhưng cũng có vị nương nguyện lực mà trở lại, chẳng phải nhờ tu luyện mà đắc.
Như Ngài Thiên Tuế Bảo Chưởng người Trung Ấn, sanh năm Thứ Mười Hai đời Châu Uy Việt, bàn tay trái nắm lại, đến năm bảy tuổi làm lễ cạo tóc mới mở ra, do đó mà có tên là Bảo Chưởng(17). Khoảng đời nhà Ngụy Tấn, sang Trung Hoa, vào đất Thục làm lễ Đức Phổ Hiền. Thường không ăn, hằng ngày tụng các kinh Bát Nhã hơn ngàn cuốn, có bài vịnh rằng :
“Nhọc nhằn răng ngọc lạnh
Tợ giòng suối tuôn nhanh
Có lúc đêm thâu ngồi
Trước thềm quỉ thần khóc”.
Một hôm, Ngài bảo đại chúng : “Ta có lời nguyện ở thế ngàn tuổi, năm nay là sáu trăm hai mươi sáu năm !”
Bởi thế có danh xưng là Thiên Tuế(18).
Kế đó, Ngài dạo núi Ngũ Đài, dời đến ở chùa Hoa Nghiêm, núi Chúc Dung, núi Song Phong ở Hoàng Mai; rồi chùa Đông Lâm ở Lư Sơn, đều tìm đến để xây dựng. Gặp lúc Tổ Đạt Ma vào nước Lương, bèn đến hỏi ý chỉ, được khai ngộ. Vua Võ Đế tôn kính tuổi đạo cao, mời vào trong triều. Chẳng bao lâu lại vào đất Ngô, có bài kệ rằng :
“Thành Lương gặp Đạo Sư
Tham thiền rõ tâm địa
Rong chơi hai xứ Triết
Hết trọn non nước đẹp”.
Thuận giòng xuống miền Đông giáp Thiên Trúc, ở núi Mậu Phong, lên non Thái Bạch, vượt qua núi Nhạn Đảng, bàn luận ở núi Thúy Phong, cả thảy bảy mươi hai cái Am. Trở về Xích Thành, dừng nghỉ ở các nơi Vân Môn, Pháp Hoa. Trở lại núi Phi Lai, ngụ ở non Thạch Đậu, đi hết bốn trăm Châu của Trung Hoa. Trong xứ này gọi là Đạo Nhân du phương. Đó là năm Thứ Mười Lăm niên hiệu Trinh Quán. Sau ở chùa Bửu Nghiêm đất Phổ Giang, kết bạn hiền với Lãng thiền sư. Mỗi khi thăm hỏi thì cho con chó trắng mang thơ sang, Ngài Lãng cũng sai một con vượn xanh làm sứ giả. Nên nơi vách sư Lãng có câu “Chó trắng ngậm thơ đến. Vượn xanh rửa bát về”.
Ngày mồng Một Tết năm Thứ Hai niên hiệu Hiển Khánh, Ngài tự đắp một bức tượng, đến mồng Chín thì xong, mới hỏi đệ tử là Huệ Vân : “Cái này giống ai ?”
Đáp rằng : “Dạ, chẳng khác Hòa Thượng”.
Liền đó đi tắm, thay áo, ngồi kiết già, bảo Huệ Vân : “Ta trụ thế một ngàn lẽ bảy mươi hai năm, nay sắp từ giã.
“Hãy nghe kệ ta :
“Bổn lai không sanh tử
Nay cũng bày sanh diệt
Ta đặng tâm ở-đi
Lại về đây năm khác”.
Chốc lát lại dặn dò : “Sau khi ta tịch sáu mươi năm, có nhà sư đến lấy hài cốt ta thì đừng ngăn cản”.
Nói xong, thì đi thoát.
Hơn năm mươi bốn năm sau, có Trưởng Lão Thích Phù từ Vân Môn đến tháp, làm lễ rồi nói : “Xin tháp mở rộng ra”.
Chốc lát cửa tháp quả nhiên mở rộng, bộ xương liền nhau như màu vàng ròng. Thích Phù bèn mang sang đất Tần Vọng xây tháp chôn thờ.
Từ năm Đinh Mão đời Châu Uy Liệt đến năm Đinh Tỵ niên hiệu Hiển Khánh đời Đường Cao Tông đúng một ngàn lẽ bảy mươi hai năm ! Đến nước này trải qua hơn bốn trăm năm. Hàng ngoại đạo cầu sống lâu mà có thể như Ngài Bảo Chưởng có mấy người ư ?

Trả lời với trích dẫn