Kinh:

Ngay đó, Ông Anan cùng cả đại chúng thân tâm suốt nhiên, đắc đại khai thị. Thấy rõ Bồ Đề cùng Đại Niết Bàn của Phật, như người nhân có việc đi xa, chưa được trở về, song đã rõ con đường về nhà.

Tất cả đại chúng trong hội, tám bộ Trời Rồng, Nhị Thừa Hữu Học cùng tất cả các Bồ Tát mới phát tâm, số lượng cả mười hằng hà sa đều đắc Bản Tâm, xa lìa trần cấu, được Pháp Nhãn Tịnh.

Tánh Tỳ Khưu Ni nghe bài kệ xong, thành quả A La Hán. Vô lượng chúng sanh đều phát tâm Vô Đẳng Đẳng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Ông Anan nghiêm chỉnh y phục, ở trong đại chúng chấp tay đảnh lễ. Tâm tánh trọn sáng, vừa mừng vừa tủi, vì muốn lợi ích cho khắp các chúng sanh đời sau, cúi đầu bạch Phật: “Con nay đã ngộ pháp môn thành Phật, trong đó tu hành, không còn nghi hoặc. Con thường nghe Như Lai nói lời thế này: “Mình chưa được độ, trước đã độ người, đó là sự phát tâm của các Bồ Tát. Tự giác đã tròn, thường giác cho người, đó là sự ứng thế của Chư Như Lai”.

“Con tuy chưa được độ, nguyện độ tất cả chúng sanh đời mạt thế. Thưa Thế Tôn, các chúng sanh ấy cách Phật ngày càng xa, nghe tà sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng; nếu muốn họ nhiếp tâm vào Tam Ma Địa, làm sao khiến họ an lập đạo tràng, lìa các ma sự, trong Bồ Đề Tâm được không thoái khuất?”

Thông rằng:

Vô Đẳng Đẳng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác tức là Tối Thượng Thừa vậy. Không vật gì bằng mà hay bình đẳng cùng vật, nên gọi là Vô Đẳng Đẳng. Đã lìa phiền não nên gọi là Phật Bồ Đề. Đã lìa sanh diệt nên gọi là Đại Niết Bàn. Vô lượng chúng sanh đều biết ở nơi chỗ này phát tâm, rõ biết phiền não chẳng phải là nhà, mà Tánh Giác là nhà vậy. Rõ biết sanh diệt chẳng phải là nhà mà Niết Bàn là nhà vậy. Pháp môn xoay lại cái Nghe, tự vào dòng, mất cái Sở, đến chỗ Tịch Diệt Hiện Tiền, trong đó tu hành, được con đường đạo Viên Thông nhiệm mầu. Thật là rõ ràng như đường chỉ trong bàn tay.

Ông Anan tuy chưa tự độ, chưa dứt hết hai thứ phân đoạn sanh tử và biến dịch sanh tử mà đến bờ kia, nhưng muốn độ chúng sanh đời sau đều được vào Chánh Định, chẳng bị ma quấy rối. Vì ma sự rất nhiều, phòng ngừa chẳng dễ. Như Tánh Tỳ Khưu Ni, nếu không được thần chú Như Lai làm sao được tâm dâm liền ngừng thành A La Hán. Năm mươi thứ Ấm Ma ở đoạn sau đều để đáp chỗ hỏi này, lại khiến rõ ràng con đường về nhà vậy.

Thiền sư Thủ Sơn Niệm dạy chúng rằng: “Lão tăng định muốn về quê, có người nào theo được?”

Khi ấy có nhà sư hỏi: “Chẳng hay khi nào Hòa Thượng đi về?”

Tổ Niệm nói: “Đợi cho có bạn thì nói với ông”.

Nhà sư hỏi: “Không có bạn việc ấy thế nào?”

Tổ Niệm nói: “Trọn ngày chẳng gặp ai, rõ ràng không biết chỗ!”

Nhà sư hỏi : “Bỗng gặp một người thì lại thế nào?”

Tổ Niệm nói : “Con mê chẳng về nhà, mất rồi đường lúc đến”.

Nhà sư hỏi : “Xin thầy chỉ cái đường về quê”.

Tổ Niệm nói : “Rồng ẩn cây khô, chẳng còn nương dựa”.

Nhà sư hỏi : “Khi nào Hòa Thượng lại trở lại?”

Tổ Niệm nói : “Một đi chẳng tri âm, sáu nước không tin tức”.

Nhà sư hỏi : “Chính lúc đang về thì thế nào?”

Tổ Niệm nói : “Độc xướng khúc nhà Hồ [Ấn Độ, để chỉ dòng Phật], không người hòa cho nổi!”

Nhà sư hỏi : “Lúc ấy bỗng gặp tri âm thì thế nào”.

Tổ Niệm nói: “Đầu non người-đá xúm vỗ tay. Bên suối lão quê cười ha hả”.

Nhà sư hỏi: “Về nhà rồi trở lại, việc ấy thế nào?”

Tổ Niệm nói : “Tám nước dâng áo lễ, bốn tướng không cải đổi”.

Nhà sư hỏi : “Chẳng rõ ở vị thứ nào?”

Tổ Niệm nói : “Văn Thù chẳng tọa Kim Đài Điện, tự có tiêu dao nhánh trúc lay”.

Xem Tổ Niệm Pháp Hoa [Thường niệm kinh Pháp Hoa] tỏ lại chỉ qua, gõ rao tự tại. Thật y cái khí vị của Tổ Ngưỡng Sơn.