Kinh:

“Do hai thứ Sáng và Tối bày tỏ lẫn nhau trong Tánh tròn đầy nhiệm mầu, mà dính che tánh trong lặng, phát ra cái Thấy. Cái Kiến Tinh dọi ra cái Sắc, kết Sắc thành Căn. Gốc Căn gọi là bốn Đại thanh tịnh. Nhân gọi là hình thể con mắt, như trái bồ đào. Phù căn bốn trần, rong ruổi chạy theo Sắc.

“Do hai thứ Động và Tĩnh đối chọi lẫn nhau trong Tánh tròn đầy nhiệm mầu, mà làm dính che Tánh trong lặng, phát ra cái Nghe. Cái Thính Tinh phóng dọi cái Tiếng, cuộn xếp cái tiếng lại thành Căn. Gốc Căn gọi là bốn Đại thanh tịnh, nhân gọi hình thể cái tai, như lá mới cuốn. Phù căn bốn trần, rong ruổi chạy theo Tiếng.

“Do hai thứ Thông và Bít phát hiện lẫn nhau trong Tánh tròn đầy nhiệm mầu, mà làm dính che Tánh trong lặng, phát ra cái Ngửi. Cái Ngửi phóng dọi ra Hương, thu nạp cái Hương thành Căn. Gốc Căn gọi là bốn Đại thanh tịnh, nhân gọi hình thể cái mũi như hai móng tay rủ xuống. Phù căn bốn trần, rong ruổi chạy theo Hương.

“Do hai thứ Nhạt và Có Vị xen phát lẫn nhau trong Tánh tròn đầy nhiệm mầu, mà làm dính che Tánh trong lặng, phát ra cái Nếm. Cái Nếm phóng dọi ra Mùi Vị, thắt cái Vị thành Căn. Gốc của Căn gọi là bốn Đại thanh tịnh, nhân gọi hình thể cái lưỡi như vành trăng non. Phù căn bốn Trần, rong ruổi chạy theo Vị.

“Do hai thứ Lìa và Hợp so sánh lẫn nhau trong Tánh tròn đầy nhiệm mầu, mà làm dính che Tánh trong lặng, phát ra cái Biết Xúc Chạm. Cái Biết Xúc Chạm phóng dọi ra thành Xúc, ôm nắm cái Xúc lại thành Căn. Gốc Căn gọi là bốn Đại thanh tịnh, nhân gọi là hình thể cái thân như cái trống cơm. Phù căn bốn trần, rong ruổi chạy theo Xúc.

“Do hai thứ Sanh và Diệt, nối tiếp lẫn nhau trong Tánh tròn đầy nhiệm mầu, mà làm dính che Tánh trong lặng, phát ra cái Biết. Cái Biết phóng dọi ra thành các pháp, tóm thu các pháp thành Căn. Gốc Căn gọi là bốn Đại thanh tịnh, nhân gọi cái Ý như cái thấy trong phòng tối. Phù căn bốn trần, rong ruổi chạy theo pháp.


Thông rằng:

Nguyên nương y một Tinh Minh, chia thành sáu cái hòa hợp, ở đây mà thấy rõ. Từ nguyên do kết tạo ra sáu Căn cho đến cách thế rong ruổi chạy theo Trần, đều đầy đủ chi tiết. Ở đây cũng như chỗ ví dụ trước về hư không bao la tham hợp với các vật dụng. Cái Thể Tinh Minh, Sắc gặp thì thành cái Thấy, Tiếng gặp thì thành cái Nghe. Thế sao là Tánh tròn đầy mầu nhiệm?

Thật cũng như nước lặng trong mà bởi có bụi rớt vào mà thành dính che vậy.

Bốn Đại thanh tịnh tỏ rõ cái Căn thắng nghĩa, hay soi chiếu Cảnh mà phát ra cái Thức, là Sắc Căn trong sạch. Phù căn bốn trần để tỏ rõ cái Căn phù trần, hay rong ruổi chạy theo trần tướng, đủ thứ nghiệp. Tánh của Đất, Nước, Lửa, Gió tất cả vốn là Không, nên gọi là bốn Đại trong sạch. Tướng của Đất, Nước, Lửa, Gió vốn là lay động, nên nói bốn trần như cái thấy trong phòng tối. Sao có được phù căn bốn trần? Bởi mê muội thành ra hư không, trong cái hư không mê muội đó, kết cái Tối làm hình Sắc. Cái Sắc tối tăm này xen lẫn với Vọng Tưởng, nhóm các duyên mà lay động bên trong. Vì có cái Tối để thấy nên gọi là Phù Căn. Vì có lay động nên gọi là Trần. Như trong năm loại Sắc, cái Sắc vô hình là do chỗ thọ nhận mà dẫn phát ra, rồi cũng cái Thọ nhớ giữ. Căn chìm vào bên trong, Trần nổi ra bên ngoài. Trần là cái chỗ để nương sao lại nói là rong ruổi? Vì, nêu lên cái Sở Y để hiển cái Năng Y vậy.

Thiền sư Phổ An có bài kệ :

“Vê chẳng thành viên, đập chẳng rời

Nào cần Nam Nhạc với Thiên Thai

Đầu cửa sáu căn không người dụng

Có chuyện Hồ Tăng [Tổ Đạt Ma] đến tự Tây ?”.


Có nhà sư ở Tổ Bửu Phước đến Tổ La Hán Sâm.

Tổ Sâm hỏi: “Phật Pháp ở đấy chỉ dạy người ta như thế nào?”

Nhà sư đáp: “Ngài Bửu Phước có lần dạy chúng rằng : Bịt đi mắt ông, dạy ông nhìn mà chẳng thấy! Lấy đi tai ông, dạy ông lắng mà chẳng nghe! Giữ chặt ý ông, dạy ông phân biệt chẳng được!”

Tổ Sâm nói: “Ta hỏi ông: Không bịt mắt ông, ông thấy cái gì? Không lấp tai ông, ông nghe được cái gì? Không giữ chặt ý ông, ông làm thế nào để có sự phân biệt?”

Nhà sư nghe xong tỉnh ngộ.

Đó là ở chính nơi đầu cửa sáu Căn thấy được lối vào, bèn thấy ngay một đoạn chân phong là Tánh tròn đủ nhiệm mầu.

Lại có nhà sư, nghe một khúc trong cuốn Tây Sương Ký, “Nào ngăn được lúc đi. Khóe mắt đâu chuyển động”, bèn đại khế ngộ.

Há phải đợi Hồ Tăng từ Tây đến sao?