Kinh :
Tánh hư không còn có thể tiêu,
Tâm Kim Cang không hề động chuyển,
Thông rằng :
Thuấn Nhã Đa [Dịch nghiã là Không Tánh, cái thật thể của hư không] (Sũnyata) là Hư Không; Thước Ca Ra [Theo Tạp Danh, Cakravãda (Thước Ca Ra) Là tên núi Thiết Vi Sơn. Theo Tạp Ngữ, Cakra (Thước Kiết), dịch là Kim Cang, luân, tinh tấn. Trường Thủy Sớ: Thước Ca Ra nói rằng kiên cố chẳng hư nát vậy](Cakravãda) là kiên cố như Kim Cang. Câu này xưa nói “Tánh Hư Không vô thể còn có thể tiêu vong. Tâm kiên cố của tôi rốt ráo không động chuyển”. Tựa như Ông Anan phát nguyện như vậy. Đã nguyện “Đắc quả thành Bảo Vương”, sao lại có nguyện này? Đã “Lên Vô Thượng Giác tọa Đạo Tràng”, sao lại khăng khăng “Không động chuyển”?
Câu này vốn chẳng có lầm, phải cần biết cái yếu chỉ quy về. Đó là “Diệu Trạm Tổng Trì Bất Động Tôn. Thủ Lăng Nghiêm Vương đời ít có”, nói ở trước.
Sao nói là Diệu Trạm ? Vì, tuy Lặng Trong Bất Động, mà chẳng bám giữ hư không, nên mới gọi là Diệu. Nếu trụ bám Hư Không mà cho là bất động, thì rốt cuộc chẳng phải “Cả thảy rốt ráo kiên cố”. Ý Ông Anan là : dù mười phương ngồi Đạo Tràng, cũng không trụ bám Pháp Thân Hư Không, nên Chánh Pháp Nhãn Tạng rốt ráo kiên cố. Cũng như nói “Thủ Lăng Nghiêm Vương, Diệu Trạm Bất Động” vậy. Đầu đuôi ứng nhau, lý thú còn lâu dài mãi.
Cổ đức nói : “Dài là Pháp Thân dài, ngắn là Pháp Thân ngắn”.
Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng: “Thử nói xem: Thuấn Nhã Đa sao lại gọi đó là Pháp Thân ?”
Ngài im lặng một lúc rồi nói: “Có hiểu không? Không thể nối dài con le le mà cắt chân con hạc, phá hòn núi để lấp cái lỗ hang!”
Lời nói này chính là vì sợ người ta hướng về trong hư không mà đóng chết ở trong đó.
Tổ Sơ Sơn thượng đường, nói: “Bệnh tăng rõ hết trước năm (niên tiền), thì hiểu được chuyện bên phía Pháp Thân. Rõ hết sau năm (niên hậu) thì hiểu được chuyện hướng thượng của Pháp Thân”.
Ngài Vân Môn bước ra, hỏi: “Thế nào là chuyện bên phía Pháp Thân?”
Tổ Sơn nói: “Cây Xuân [Cây Xuân là một loại cây sống đến mấy ngàn năm] khô”.
Hỏi : “Thế nào là chuyện hướng thượng của Pháp Thân?”
Tổ Sơn nói : “Chẳng phải cây Xuân khô!”
Hỏi : “Có cho phép tôi nói đạo lý không?”
Tổ Sơn nói : “Cho”.
Ngài Vân Môn nói: “Cây Xuân khô há chẳng phải tỏ rõ cái chuyện bên phía Pháp Thân sao?”
Tổ Sơn nói: “Đúng vậy”.
Ngài Vân Môn nói: “Chẳng phải cây Xuân khô” há chẳng phải tỏ rõ chỗ hướng thượng của Pháp Thân sao?”
Tổ Sơn nói : “Đúng vậy”.
Ngài Vân Môn nói : “Như thế Pháp Thân bao trùm tất cả phải không?”
Tổ Sơn nói : “Pháp Thân toàn khắp, sao chẳng trùm hết?”
Ngài Vân Môn chỉ cái tịnh bình, nói : “Như thế cái tịnh bình có bao trùm Pháp Thân không?”
Tổ Sơn nói : “Xà Lê chớ hướng về một bên tịnh bình tìm kiếm!”
Ngài Vân Môn bèn lễ bái.
Rõ ràng chỉ ra “Chẳng phải cây Xuân khô” là một con đường sống. Chỉ là cái “Chẳng phải cây Xuân khô” này, chánh thật hợp với ý chỉ “Tánh hư không còn có thể tiêu” vậy.
Ngài Tào Sơn ban đầu ra mắt Tổ Động Sơn.
Tổ Động Sơn nói : “Thầy Xà Lê tên gì ?”
Ngài đáp : “Bổn Tịch”.
Tổ Động Sơn nói : “Hình dạng gì ?”
Ngài đáp : “Chẳng gọi là Bổn Tịch”.
Tổ Động Sơn nói : “Rất là pháp khí vậy”.
Từ đó, được nhập thất, trải qua mấy năm mới xin đi. Tổ Động Sơn mới mật truyền cho “Bảo Cảnh Tam Muội”, lại hỏi : “Ông hướng chỗ nào đi?”
Ngài Tào Sơn đáp : “Đi vào chỗ chẳng hề thay đổi”.
Tổ nói : “Chỗ chẳng hề thay đổi lại có đi ư ?”
Ngài nói : “Đi cũng chẳng thay đổi!”
Ngài Đơn Hà tụng rằng :
“Nhà nhà cửa đóng, ánh trăng soi
Chốn chốn oanh kêu dương liễu rung
Nếu bảo tung hoành không đổi khác
Cũng như quăng kiếm chém hư không”.
Tổ Tào Sơn, Chánh Thiên kiêm đới [Sự Lý viên dung], có thể nói là được con mắt kim cang. Như định nhìn nhận chỗ không thay đổi, dường vẫn còn cây kiếm. Ôi, vi tế, nhỉ!

Trả lời với trích dẫn