Thông rằng :
Ở trước, Ông Anan hỏi rằng : “Cái Diệu Tâm toàn vẹn cùng khắp mà sao lại có các nẻo Địa Ngục, Ngạ Quỉ, Súc Sanh, Tu La, Người, Trời... Vậy là có chỗ nhất định hay là tự nhiên ? Mỗi mỗi phát ra nghiệp mà mỗi mỗi tự chịu là xưa nay vốn tự có hay là do cái hư vọng của chúng sanh tích tập mà sanh ra ?”
Bởi thế, ở đây trả lời chung rằng : “Bảy nẻo tối tăm chìm đắm đều là tướng hữu vi. Ở trong cái Bản Tâm vô tác tròn sáng nhiệm mầu vốn không có gì, như hoa đốm trong hư không, có gì là can thiệp ? Bổn lai chẳng phải tự có vậy. Chỉ là do vọng tưởng mà thọ sanh, vọng tưởng mà theo nghiệp, nên bảo là “Thói quen hư vọng sanh khởi” vậy. Mỗi mỗi phát ra Nghiệp mà mỗi mỗi tự riêng chịu phần mình, thì chẳng phải là không có chỗ nhất định. Tự hư vọng mà phát sanh, cái mê lầm (Hoặc) làm nhân của hư vọng, mà hư vọng là nhân của nghiệp thì chẳng phải là tự nhiên vậy. Hư vọng sanh ra đó vốn không có nguyên nhân, không có nguồn gốc ở đâu cả, vì vốn tự thường tịch vậy. Do ba cái Sát, Đạo, Dâm làm căn bản. Thuận theo nghiệp Sát, Đạo, Dâm đó là vọng thấy ra có, đã có thì phải chìm đọa bốn nẻo ác mà thấp nhất là loài Quỉ. Chẳng thuận theo ba nghiệp mà ngược lại thì vọng thấy ra Không, đã Không thì hẳn sanh vào đường thiện, mà loài Trời là cao nhất. Thiện, ác tuy khác đường nhưng Có, Không đắp đổi nhau nên luân hồi ba cõi không có thôi nghỉ. Đó là do con người tạo ra, chẳng phải lỗi nơi Bồ Đề”.
Nếu nhiệm mầu phát huy được Tam Ma Đề, nhận biết Bản Tâm mình, đắc cái thanh tịnh chân thật thì gọi là Diệu : chẳng lìa ba cõi mà đốn siêu ba cõi ! Trong Chánh Định tịch thường ấy không có hai thứ Có, Không để đắc ! Đã trừ cái hư vọng của tục đế thì cái Không của Không Hai cũng mất. Lại đoạn trừ cái Chân của Niết Bàn thì Căn Bản Vô Minh tiêu tan ráo sạch, mê lầm từ đâu sanh khởi, hư vọng từ đâu phát sanh ? Thiện còn chưa có được huống gì theo nơi ác. Chỗ này cũng như mắt vốn không nhặm thì hoa đốm không đâu mà tự có được.
Ba Hoặc, các kinh thường chỉ Kiến Tư Hoặc, Trần Sa Hoặc và Vô Minh Hoặc. Kiến Tư Hoặc cũng gọi là Thông Hoặc vì chung cho cả ba thừa cùng đoạn trừ. Trần Sa Hoặc còn gọi là Biệt Hoặc, vì chỉ hàng Bồ Tát mới đoạn trừ nổi. Vô Minh Hoặc là chủng tử của nghiệp thức, chỉ có hàng Bồ Tát Đại Thừa mới đoạn trừ nổi.
Chẳng trừ mắt nhặm thì tuy muốn trừ hoa đốm, đó là càng thêm hư dối, sai lầm, dẫu cho có được thần thông cũng lạc vào Ma đạo. Ma đạo nghĩa là không trừ Sát, Đạo, Dâm mà tu tà định. Bởi thế, muốn đắc Vô Thượng Bồ Đề phải trừ ba Hoặc, rửa sạch tập khí. Ba Hoặc đã không còn thì có đâu ba cõi. Nếu chẳng biết lời nói này mà bảo rằng Bồ Đề vốn Không, cần chi trừ Hoặc : đó là Ma nói vậy.
Có một cư sĩ hỏi Tổ Tây Đường Trí Tạng : “Thưa có thiên đường, địa ngục không ?”
Tổ Tạng nói : “Có”.
Hỏi : “Có Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo không ?”
Tổ Tạng nói : “Có”.
Người ấy lại hỏi nhiều điều nữa, Tổ đều đáp có.
Ông nói : “Hòa Thượng nói thế chẳng có lầm ư ?”
Tổ Tạng nói : “Ông từng gặp vị tôn túc nào rồi ?”
Cư sĩ : “Tôi đã từng tham hỏi Ngài Kính Sơn Hòa Thượng”.
Tổ Tạng nói : “Ngài Kính Sơn nói với ông thế nào ?”
Đáp : “Ngài nói thảy cả đều không !”
Tổ Tạng hỏi : “Ông có vợ không ?”
Đáp : “Dạ, có”.
Tổ Tạng nói : “Hòa Thượng Kính Sơn có vợ không ?”
Đáp : “Dạ, không”.
Tổ Tạng nói : “Hòa Thượng nói Không thì được!”
Đây là nơi lời lẽ tầm thường mà chỉ ra tin tức đốn siêu ba cõi, nhiệm mầu thay !
Lại có nhà sư hỏi thiền sư Động Sơn Thuyên : “Hành giả thanh tịnh chẳng lên thiên đường, Tỳ Kheo phá Giới chẳng vào địa ngục, thì như thế nào ?”
Tổ Thuyền nói :
“Độ tận không lưu ảnh
Về kia, vượt Niết Bàn”.
Ngài Đơn Hà tụng rằng :
“Tướng hảo nguy nguy đại trượng phu
Một đời không Trí hạp như ngu
Xưa nay Phật, Tổ còn khó ngóng
Địa ngục thiên đường, há buộc ư ?”.
Đây có thể chứng minh cho sự nhiệm mầu phát huy Tam Ma Đề vậy.

Trả lời với trích dẫn