Bài 54.


NHỮNG PHÁP TỰ BÀNG XUẤT TỪ TỔ THỨ 32 HOẰNG NHẪN ĐẠI SƯ

PHÁP TỰ BÀNG XUẤT ĐỜI THỨ NHẤT

1. THIỀN SƯ THẦN TÚ BẮC TÔNG.



Người huyện Úy Thị, phủ Khai Phong (Hà Nam), họ Lý. Lúc nhỏ mến nghiệp Nho, học rộng biết nhiều. Chẳng bao lâu bỏ sở thích xuất gia tìm thầy học đạo, đến chùa Đông Sơn núi Song Phong ở Kì Châu, gặp Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn Đại sư. Lấy tọa thiền làm nhiệm vụ, rồi thán phục:

- Đây đúng là thầy ta.

Sư nguyện với lòng chịu khổ nhọc để giữ tiết, tự phục dịch bằng cách bửa củi xách nước mà cầu đạo.
Hoằng Nhẫn thầm biết Sư sâu sắc, hơn nữa xem là nhân tài, nói với Sư:

- Ta độ nhiều người rồi, riêng những người giải ngộ thì không ai bằng ông.

Sau khi Hoằng Nhẫn đã thị hiện nhập diệt, Tú mới đến trụ ở núi Đương Dương thuộc Giang Lăng. Đường Vũ hậu nghe tiếng, triệu Sư đến kinh đô, cúng dường ở đạo tràng nội cung đặc biệt tôn kính.
Vua truyền mệnh Sư về núi cũ, ban cho biển ngạch treo trước chùa Độ Môn để vinh danh đức hạnh. Bấy giờ hàng vương công, nhà quý tộc, kẻ sĩ và thứ dân đều hết mực tôn kính bái phục. Đến vua
Trung Tông tức vị lại càng kính trọng, đại thần Trương Thuyết thường hỏi về pháp yếu giữ lễ làm đệ tử.

Sư có bài kệ dạy chúng:

Nhất thiết Phật pháp,
Tự tâm bổn hữu.
Tương tâm ngoại cầu,
Xả phụ đào tẩu.


一切佛法  
自心本有  
將心外求
捨父逃走


(Tất cả Phật pháp,
Tâm mình vốn có.
Đem tâm cầu ngoài,
Chạy trốn bỏ cha).


Năm Thần Long thứ 2 (706 – Đường Trung Tông), Sư nhập diệt ở chùa Thiên Cung, Đông Đô. Vua ban thụy hiệu là Đại Thông Thiền Sư, Vũ Nghi Pháp Vật (chỗ chứa pháp làm tiêu biểu cho người noi theo). Đưa đi an táng ở Long Môn, vua tiễn đến đầu cầu, vương công sĩ thứ đều đưa đến nơi an táng. Trương Thuyết và Trưng sĩ Lô Hồng mỗi người làm bài văn viếng khắc trên bia. Môn nhân Phổ Tịch, Nghĩa Phước … đều được triều đình và thôn dã kính trọng.