KINH HOA NGHIÊMPhẩm 26 PHẨM THẬP ĐỊA__________________________________________________ ______________________________________
Chư Phật tử ! đại Bồ tát này lại nghĩ rằng : những chúng sanh này thọ khổ như vậy, vó cùng khốn đốn, không chổ nương, không ai cứu, không đất, không nhà, không mắt, không người dẫn dắt. Họ bị vô minh che loà, màn tối chụp trùm .
Nay tôi vì họ mà tu hành những pháp trợ đạo phước trí. Đơn độc phát tâm chẳng cầu bè bạn. Đem công đức này làm cho chúng sanh được rốt ráo thanh tịnh, nhẫn đến chứng được mười trí lực vô ngại của Như Lai.
Chư Phật tử ! Đại Bồ tát này dùng trí huệ quán sát thiện căn đã tu như vậy, đều vì cứu hộ tất cả chúng sanh, lợi ích tất cả chúng sanh, thương xót tất cả chúng sanh, thành tựu tất cả chúng sanh, giải thoát tất cả chúng sanh nhiếp thọ tất cả chúng sanh, khiến tất cả chúng sanh lìa những khổ não, khiến tất cả chúng sanh đều được thanh tịnh, khiến tất cả chúng sanh đều được điều phục, khiến tất cả chúng sanh chứng nhập Niết bàn.
Chư Phật tử ! Đại Bồ tát an trụ bực đệ ngũ Nan thắng địa, gọi là "niệm" là vì chẳng quên chánh pháp, gọi là " trí " là vì hay khéo nói quyết rõ, gọi là "hữu trí" là vì biết ý thú Kinh thứ đệ liên hiệp, gọi là "tàm quý" là vì hộ mình hộ người, gọi là "nên cố" là vì chẳng bỏ giới hạnh, gọi là "giác" là vì hay quán sát thị xứ phi xứ, gọi là "tuỳ trí" là vì chẳng tuỳ nơi khác, gọi là " tuỳ huệ" là vì khéo biết câu sai biệt đúng nghĩa hay chẳng đúng nghĩa, gọi là " thần thông", là vì khéo tu thiền định, gọi là "phương tiện thiện xảo" là vì có thể thật hành theo thế gian, gọi là "vô yểm túc " là vì khéo chứa phước đức, gọi là "bất hưu tức" là vì thường cầu trí huệ, gọi là " bất bì quyện " là vì chứa đại từ bi , gọi là " siêng tu vì người " là vì muốn cho tất cả chúng sanh chứng nhập Niết bàn, gọi là "cần cầu chẳng giải đãi" là vì cầu trí lực, vô uý, bất cộng pháp của Như Lai, gọi là "mống ý hay làm" là vì thành tựu trang nghiêm Phật độ, gọi là " siêng tu công hạnh lành" là vì hay đầy đủ tướng hảo, gọi là "thường siêng tu tập" là vì cầu trang nghiêm thân, ngữ, ý Như Lai, gọi là "rất tôn trọng cung kính pháp" là vì đúng như lời dạy của tất cả đại Bồ tát mà thật hành, gọi là "tâm không chướng ngại" là vì dùng đại phương tiện thường du hành thế gian, gọi là "ngày đêm xa lìa những tâm khác" là vì thích giáo hoá chúng sanh.
Chư Phật tử ! lúc đại Bồ Tát siêng tu hành như vậy, dùng Bố thí để giáo hoá chúng sanh, dùng ái ngữ lợi hành và đồng sự để giáo hoá chúng sanh. Thị hiện sắc thân để giáo hoá chúng sanh, diễn thuyết các pháp để giáo hoá chúng sanh, khai thị Bồ Tát hạnh để giáo hoá chúng sanh. Hiển thị lỗi lầm khổ sở của sanh tử để giáo hoá chúng sanh. Khen ngợi trí huệ lợi ích của Như Lai để giáo hoá chúng sanh. Hiện sức đại thần thông để giáo hoá chúng sanh. Dùng các môn phương tiện để giáo hoá chúng sanh.
Chư Phật tử ! đại Bồ Tát này có thể siêng năng phương tiện như vậy để giáo hoá chúng sanh, lòng luôn tương tục thẳng đến Phật trí . Thiện căn đã tu không hề thối chuyển, thường siêng tu học những pháp hành thù thắng.
Chư Phật tử ! Đại Bồ Tát này vì lợi ích chúng sanh nên gồm học tập tất cả kỹ nghệ thế gian, thông đạt cả những môn văn tự, toán số, đồ thơ, ấn loát, các sách luận về địa, thuỷ, hoả, phong. Lại giỏi phương thuốc trị lành các bịnh : điên cuồng, càn tiêu, quỷ mị, cổ độc. Lại giỏi những thứ văn bút, tấu vịnh, ca vũ, kỷ nhạc, diễu cười, đàm luận. Biết rành cách thức kiến thiết thành trì, thôn ấp, nhà cửa, vườn tược, suối ao, cây cỏ, hoa trái, dược thảo. Biết những nơi có mõ vàng, bạc, châu, ngọc. Giỏi xem biết rành mặt trời, mặt trăng, tinh tú, chim hót, địa chấn, chiêm bao tốt xấu, thân tướng sang hèn. Những môn trì giới, nhập thiền định, vô lượng thần thông, tứ vô sắc và tất cả việc thế gian khác, nếu là những sự không làm tổn chúng sanh mà đem lại lợi ích thời đều khai thị cho họ, lần đưa họ đến Phật pháp vô thượng.

Trả lời với trích dẫn