Xin chào Mục Đồng ! Câu hỏi của bạn rất hay.
Viết được như vầy chứng tỏ bạn có theo dỏi bài, có suy tư. Người có lắng nghe học hỏi suy tư, ngày nay chưa thông thì một lúc nào đó trong tương lai sẽ thông (có thể là nhiều kiếp sau). Cái "thông" đó là phát sinh trí tuệ đó ! Cái này thì bạn phải "lớn kịp" thì mới thông ra. Giải được bài toán khó là người phải có trình độ, giải được thì hoan hỉ, giải chưa được thì còn là phàm phu (nghĩa là vẫn trong vòng sinh tử luân hồi), tuy còn là phàm phu nhưng nếu chí nguyện không rời thì gọi là "ôm giữ NGHI TÌNH".
Thưa bạn, Trí BÁT NHÃ BA LA MẬT thì VÔ CHỨNG DIỆC VÔ ĐẮC, đạo Phật đã ẫn dụ là hình ảnh Đức Đại Tuệ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. (Trong Kinh có nói "VĂN THÙ LÀ MẸ ĐẺ CHƯ PHẬT" là nghĩa này).
Còn cái Trí do học hỏi Kinh sách suy tư (cộng thêm Công đức) mà mở thông TƯƠNG ƯNG với Chân Lý là Trí Tuệ Phàm _ hình ảnh ẫn dụ là Đức Đại Trí Đại Thế Chí Bồ Tát. Cái Trí Tuệ Phàm này thì phải nhờ công phu tu hành nhiều đời nhiều kiếp, gạn đục khơi trong, làm vô lượng công đức (trong đó có Thiền Định) mới khai sáng ra được. (Cũng như hình ảnh Đức Quán Thế Âm chỉ là ẫn dụ cho Đức Đại Bi, dỉ nhiên theo trong Kinh thì Đức Đại Bi có thể tùy trường hợp mà hóa hiện vô lượng hình tướng khác nữa. Hình ảnh mà chúng ta thấy chỉ là giả ảnh thì sao lại không thể hiện ra hình khác nữa chứ ?!)
Bài trên Cường nói "Thiền Định sanh Trí Tuệ" là nói Trí Tuệ Phàm này.
Còn nói "Yếu nghĩa Phật Thừa : VÔ TRÍ DIỆC VÔ ĐẮC" là nói phủ định cái Trí Tuệ Phàm (TTP) Cái TTP thì thấy "có tu có chứng".
Cái Trí Bát Nhã thì thấy tất cả chỉ là "ảnh hiện trong mơ" _ kể cả Sanh tử luân hồi và Niết Bàn. (Ở đây Cường chỉ nói Niết Bàn, chứ không nói Đại Niết Bàn).
Nhưng xin nhớ trong Bát Nhã Tâm Kinh sau khi phủ định tất cả :
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.
Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức.
Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.
Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận.
Vô khổ, tập, diệt, đạo.
Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.
Thì Tâm Kinh Bát Nhã quay lại :
Bồ đề tát đõa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.
Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề.(xa lìa được cái điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn.
Chư Phật ba đời vì chứng Trí tuệ Đại Bát Nhã nầy mà đắc quả Vô thượng, Chánh đẳng Chánh giác.)
Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.
Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
------------
Do vì "thấy tất cả các pháp đều ảo huyễn" hết, cho nên làm tất cả mà như chưa từng làm gì cả, không chứng đắc gì cả ấy chính là đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (chỗ này có thể tạm gọi là Đại Niết Bàn _ chứ không còn là Niết Bàn nữa).
Tuy chúng sinh như huyễn như hóa, nhưng chư vị Đại Giác Ngộ chưa từng ngưng nghỉ việc "ĐỘ HUYỄN", đây gọi là :
"Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha".


Trả lời với trích dẫn