Thế Hệ Thứ Mười Một (9 người, 8 người khuyết lục)
33. THIỀN SƯ Quảng Nghiêm (1122 - 1190)
Chùa Tịnh quả, Trung thụy, Trương canh, người Đan phụng, họ Nguyễn. Sớm mất cha mẹ, Sư theo người cậu là Bảo Nhạc thọ nghiệp, đấy là bước đầu phát tâm. Nghe Trí Thiền (1)giáo hóa ở chùa Phúc thánh tại Điển lãnh. Sư liền đến đó tham vấn. Một hôm, nghe Thiền giảng Tuyết đậu ngữ lục (2) đến chuyện hai vị tôn túc Đạo Ngô và Tiệm Nguyên, tới nhà người chết hỏi việc sống chết (3), Sư như có điều tỏ ngộ, liền hỏi: "Một câu thoại đầu ấy, cổ nhân nói, nhân trong sống chết còn có lý không?".
Thiền đáp: "Người thể nhận được lý do đó chăng?"
Sư thưa: "Thế nào là lý không sinh tử?"
Thiền đáp: "Chỉ ở trong sinh tử, mới khéo hiểu được nó"
Sư thưa: "Thế là đã vô sinh rồi"
Thiền bảo: "Tức cũng tự mình hiểu lấy"
Nghe xong, Sư hoàn toàn được giải đáp, bèn hỏi: "Làm cách nào để quyết chắc?"
Thiền đáp: "Rõ rồi cũng giống như chưa rõ".
Sư sụp lạy, Từ đấy, tiếng tăm Sư vang khắp Thiền lâm.
Lúc đầu Sư đến chùa Khánh ân tại Siêu loại trác tích. Binh bộ Thượng thư Bằng Giáng Tường nghe danh kính mộ, thỉnh Sư về trụ trì chùa Tịnh quả. Sư nêu cao tôn chỉ, Thiền lữ đến học đều không đến suông.(4)
Một hôm có đệ tử nhập thất là Thường Chiếu, nêu kinh Kim Cang ra hỏi:
"Pháp mà Như Lai đạt được, pháp đó không thật, không hư vậy nó là pháp gì?" (5)
Sư đáp : "Người đừng có chê khéo đức Như Lai"
Chiếu đáp: "Hoà thượng đừng có chê khéo lời kinh".
Sư hỏi: "Kinh đó do ai nói?"
Chiếu đáp: "Hoà thượng đừng có đùa lâu với con, há chẳng phải Phật nói sao?"
Sư đáp: "Nếu là Phật nói, tại sao trong kinh lại bảo: "Nếu nói Như Lai có chỗ thuyết pháp, tức là huỷ báng Như Lai" (6)
Chiếu không nói được.
Có vị Tăng đến hỏi: "Pháp thân là gì?"
Sư đáp: "Pháp thân vốn không tướng".
Lại hỏi: "Thế nào là Bát nhã?"
Sư đáp: "Bát nhã không hình"
Hỏi: "Thế nào là cảnh Tịnh quả?".
Sư đáp: "Cây thông, cây thu bên bãi tha ma xưa".
Hỏi: "Thế nào là người trong cảnh?"
Đáp: "Một mình ngồi bít miệng bình".
Lại thưa: "Chợt gặp tri âm, làm sao tiếp đây?"
Sư đáp: "Tuỳ duyên nhướng đôi mày".
Lại thưa: "Làm sao mới là con cháu Kiến sơ và dòng dõi Âu công?" (7)
Sư đáp: "Người Ngu nước Sở".
Vị Tăng không đáp được.
Đến ngày rằm tháng 2 năm Canh Tuất Thiên Tư Gia Thụy thứ 5 (1190), lúc sắp tịch, Sư nói bài kệ sau:
"Lìa tịch mới bàn câu tịch diệt
Được vô sinh sau nói vô sinh
Làm trai có chí xông trời ấy
Chớ hướng Như Lai hành xứ hành" (8)(*)
Nói kệ xong, Sư chấp tay ngay ngắn mà mất, thọ 69 tuổi. Bằng công làm lễ hỏa táng, dựng tháp thờ.
______________
Chú thích :
(1)
Nguyên văn chép Trí Thiền. Nhưng truyện Minh Trí ở trên nói "tên trước của Trí là Thiền Trí". Vậy Trí Thiền chắc là một chép lộn của Thiền Trí hay ngược lại.
(2)
Tức Minh Giác Thiền sư ngữ lục, của Thiền sư Trùng Hiển (980-1052) núi Tuyết đậu ở Minh châu, sau khi mất, được vua Tống ban hiệu cho là Minh Giác.
(3)
Đạo Ngô và Tiệm Nguyên đi điếu tang. Nguyên vỗ quan tài nói: "Sống ư? Chết ư?". Ngô nói: "Sống, không nói. Chết không nói".
Nguyên hỏi: "Vì sao không nói?". Nguyên đáp: "Không nói là không nói". Xem Bích nham lục 6
(4)
Nguyên văn: Hư vãng, Trang tử "Đức sung phù": "Lập bất giác, tọa bất nghị, hư nhi vãng, thật nhi quy".
(5)
Kim cang kinh: "Như Lai sở đắc pháp, thử pháp vô thật vô hư"
(6)
Đại Châu Huệ Hải hỏi một giảng sư kinh Kim cang: "Kinh đó là ai nói?" Vị sư lên tiếng đáp: "Hoà thượng nói giỡn sao: Há không biết Phật nói sao?. Sư nói: "Nếu bảo Như Lai có chỗ thuyết pháp tức là hủy báng Phật, người đó không biết nghĩa ta nói ..."
(7)
Kiến Sơ chỉ cho Vô Ngôn Thông, thiền phái của Thông cũng gọi là phái Kiến Sơ. Âu công chỉ cho Đạo Huệ, Đạo Huệ họ Âu.
(8)
Thiền sư Đồng An Sát, Thập huyền đàm:
"Trượng phu tự hữu xung thiên chí
Mạc hướng Như Lai hành xứ hành".
------------------
Chú thích của hungcom :
(*)
離寂方言寂滅去,
生無生后說無生。
男兒自有衝天志,
休向如來行處行。
Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ,
Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh.
Nam nhi tự hữu xung thiên chí,
Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.

Trả lời với trích dẫn