Tăng thưa: "Quách quân nếu không nhận
Can gián chẳng làm chi".
Sư đáp: "Nếu muốn bưng uống trước
Vẽ rắn khéo hãy thôi" (1)

Lại hỏi: "Rắn chết giữa đường
Xin thầy cứu sống" (2)
Sư đáp: "Ngươi là người phương nào?".
Tăng đáp: "Vốn người ở núi".
Sư dạy: "Mau về non cũ ẩn
Chớ gặp Hứa Chân Quân" (3)

Lại hỏi: "Hải tạng (4) mênh mông không nên hỏi
Tào khê từng giọt nghĩa ra sao?"
Sư đáp: "Rừng tùng tiếng gió thê lương thổi,
Mưa tạnh bùn nhơ ngập lối đi".

Tăng thưa: "Không khác với ngày nay, là thế nào?" (5)
Sư đáp: "Cúc trùng dương dưới giậu
Oanh ngày nắng đầu cành".

Lại hỏi: "Sờ sờ ở khoảng mắt lòng
Rành rành trong chốn sắc thân
Nhưng lý không thể phân
Tướng không thể thấy
Vì sao không thấy được?" (6)
Sư đáp: "Trong vườn hoa rực rỡ
Trên bờ cỏ tràn lan".

Tăng thưa: "Năm lạnh mầm non rụng
Lấy gì để thưởng công".
Sư đáp: "Mừng cho ông tự rõ
Sung sướng biết chừng nào !"

Tăng thưa: "Hôm nay, may nghe giải
Từ nay hết hoang mang ".
Sư dạy: "Đắm cạn vừa vớt ra
Ngoảnh đầu đầm muôn trượng".

Lại hỏi: "Trong thành Niết bàn vẫn còn nguy hiểm (7)
Thế nào là chỗ không nguy hiểm?".
Sư đáp: "Trên rèm che làm tổ
Cành lau xõa tóc mai".

Tăng thưa: "Nếu gặp lúc cấp bách Đôi đường xử lẽ nào ?".
Sư đáp: "Trượng phu theo phóng khoáng
Trăng gió hãy vui chơi" (8)

Lại hỏi: "Hết thảy chúng sanh đều bảo là Phật, lẽ ấy chưa tường, mong thầy chỉ dạy?".
Sư đáp: "Nông trang hãy gắng khuyên anh thế Đợi thỏ người kia chớ nhọc theo" (9)

Tăng thưa: "May được thầy chỉ rõ
Trọn chẳng đến ai tìm".
Sư dạy: "Khá thương một lần nghẹn
Ngồi đó trót quên ăn”.


Chú thích :

(1)
Điển của Tề Văn 2 trong Chiến quốc sách. Nước Sở có hai người thi vẽ rắn để uống rượu. Một người vẽ xong trước lại vẽ rắn thêm chân. Người vẽ xong sau không chịu, cho rằng rắn không có chân, rồi giựt ly rượu mà uống.

(2)
Thiền sư Thanh Lâm:

Tử xà dương đại lộ
Khuyết tử mạc đương đầu


(Rắn chết giữa đường lớn
Xin ông chớ đương đầu)


(3)
Hứa Chân Quân, tên tục là Hứa Tốn làm quan lịnh Tinh dương đời Bắc ngụy. Theo truyền thuyết, ông sau theo đạo thần tiên và bay lên trời, đến đời nhà Triệu Tống thì được phong là Thần công diệu tế chân quân. Cái tên Hứa Chân Quân do thế mà có.

(4)
Hải tạng : chỉ đạo Phật trong kinh điển hay tất cả kinh điển đạo Phật. Tào khê, chỉ cho Thiền phái. Phật Quả tham bái Chân Giác Thắng. Thắng chích cánh tay chảy máu rồi nói: "Đây là một giọt Tào khê".

(5)
Bất dị kim thời : đặc ngữ của Thiền chỉ cho việc sau khi giác ngộ không khác gì lúc chưa giác ngộ. Hoà thượng Bảo Chí, Thập nhị thời tụng:

Giả sử tâm thông vô lượng thì
Lịch kiếp hà tằng dị kim nhật


(Giả sử lòng thông từ vô thỉ
Nhiều kiếp sao từng khác hôm nay).


(6)
Thiền sư Minh Giác thượng đường, có vị sư hỏi: "Sờ sờ ở khoảng mắt lòng, mà tướng không thể thấy, rành rành trong vòng sắc trần mà lý không thể phân. Đã ở trong khoảng mắt lòng sao lại không thấy tướng của nó?” (Chiêu chiêu ư tâm mục chi gian, nhi tướng bất khả đổ. Hoảng hoảng tại sắc trần chi nội nhi lý bất khả phân. Ký ư tâm mục chi gian, vi thập ma bất đổ kỳ tướng?)

(7)
Thiền sư Đồng An Sát, Thập huyền đàm, "hồi cơ":

Niết bàn thành lý thượng do nguy
Mạch lộ tương phùng một định kỳ
Quyền quải cấu y vân thị Phật
Khước trang trân ngự phục danh thùy
Mộc nhân dạ bán xuyên ngoa khứ
Thạch nữ thiên minh tải mạo qui
Vạn cổ bích đàm không giới nguyệt
Tái tam lao lộc nãi ưng tri.

(Niết bàn thành ấy vẫn còn nguy
Đường phố gặp nhau chẳng hẹn kỳ
Giả mặc đồ dơ tên gọi Phật
Nếu mang áo ngự gọi tên gì
Nửa đêm người gỗ mang giày mất
Vừa sáng gái trơ đội mũ về
Đầm biếc ngàn xưa trăng luống giọi
Ba lần mò mẫm mới hay ri).


(8)
Long Đàm Sùng Tín hỏi Đạo Ngô: "Làm sao để quyết chắc?"
Ngô nói: "Nhiệm tính tiêu diêu
Tuỳ duyên phóng khoáng"


(Tiêu diêu mặc tính
Phóng khoáng tùy duyên)

(9)
Điển rút từ thiên Ngũ đồ trong Hàn Phi Tử. Nước Tống có người làm nông gặp một con thỏ chạy vấp phải một gốc cây mà chết. Anh đem về làm thịt ăn. Hôm sau anh ra đồng, bỏ cả cày bừa, đến gốc cây ngồi đợi một con thỏ khác. Thỏ khác đã không được, mà còn bị cả nước Tống cười.