.
Một hôm vào lúc Sư lễ Phật, có một Thiền khách đến hỏi: "Tọa chủ lễ cái gì đó?"
Sư đáp: "Lễ Phật"
Thiền khách chỉ tượng Phật hỏi: "Cái này là cái gì?" Sư không đáp được.
Đêm đó Sư y phục nghiêm chỉnh đến lạy thiền khách, thưa rằng: "Điều ngài hỏi khi nãy tôi chưa biết ý chỉ như thế nào?"
Thiền khách hỏi: "Tọa chủ xuất gia đến nay trải được mấy hạ?"
Sư thưa: "Mười hạ".
Thiền khách hỏi: "Lại từng xuất gia chưa?"
Sư trở thành hoang mang.
Thiền khách bảo: "Nếu không hiểu điều đó, thì dù có trăm hạ cũng chẳng ích gì !"
Rồi đem Sư cùng đến tham vấn Mã Tổ (1) Đi tới Giang tây (2) thì Tổ đã tịch, bèn đến yết kiến Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải (3) Bấy giờ có vị tăng hỏi: "Thế nào là pháp môn đốn ngộ của Đại thừa?"
Bách Trượng đáp: "Đất lòng nếu không _ Trời tuệ tự chiếu" (4) Nghe xong Sư tỉnh ngộ.
Trở về Quảng châu, trụ trì chùa Hoà an. Có người hỏi: "Thầy phải là Thiền sư chăng?" Sư đáp: "Bần đạo không từng học thiền" Im lặng giây lâu, Sư gọi, Người đó đáp: "Dạ".
Sư chỉ cây soan. Người đó không trả lời.
Thiền sư Ngưỡng Sơn (5) khi còn là sa di, có lần Sư gọi: "Tịnh con, đem cái giường lại đây cho ta".
Nguỡng Sơn đem giường đến. Sư bảo: "mang lại chỗ cũ". Nguỡng Sơn vâng theo.
Sư lại hỏi: "Tịch, bên này có cái gì?"
_ "Không vật".
"Còn bên kia?"
_ "Không vật".
Sư lại gọi: "Tịch con !"
Nguỡng Sơn thưa: "Dạ".
Sư bảo: "Đi đi".
Chú thích :
(1)
Tức Thiền sư Đạo Nhất (709 - 788) ở Giang tây, là học trò đắc pháp duy nhất của Nam Nhạc Hoài Nhượng. Sư người họ Mã, nên thường gọi là Mã Tổ. Về tiểu sử, xem Truyền đăng lục 6 tờ 245 c23-246c6.
(2)
Giang tây, vùng đất ở phía nam thuộc lưu vực trung bờ sông Dương tử, tương đương với phần đất tỉnh Giang tây ngày nay.
(3)
Bách Trượng Hoài Hải (749 - 814) là học trò của Mã Tổ. Sư người Trường lạc, Phúc châu. Sau khi đắc pháp với Mã Tổ rồi, bèn đến tại núi Đại hùng ở Hồng châu, vì ở ngọn núi này cao dốc nên cũng gọi là Bách trượng. Xem Truyền đăng lục 6 tờ249b26 - 250c.
Ở Trung Quốc, Thiền sư Hoài Hải được coi như là vị thầy của hai người học trò đã khai sinh ra hai phái thiền lớn của Trung Quốc, đấy là Linh Hựu ở Qui Sơn, người đã cùng với học trò mình là Huệ Tịch ở Ngưỡng Sơn khai sinh ra phái thiền Qui Ngưỡng, và Hy Vận ở Hoàng bá, người đã dạy cho học trò mình là Nghĩa Huyền ở Lâm Tế thành lập nên phái thiền Lâm Tế. Ở đây, ta có thể nói Thiền sư Hoài Hải còn có một nguời học trò thứ ba cũng khai sinh ra một thiền phái lớn khác ngoài đất Trung Quốc, đấy là thiền phái Kiến sơ của Vô Ngôn Thông ở Việt Nam.
(4)
Tham chiếu Truyền đăng lục 6 tờ250a17: Thiền sư Bách Trượng, có Tăng hỏi: "Như hà thị Đại thừa đốn ngộ pháp môn?" Sư viết:
"Nhữ đẳng tiên hiết chư duyên, hưu tức vạn sự; thiện dữ bất thiện, thế, xuất thế gian, nhất thiết chư pháp, mạc ký, mạc ức, mạc duyên niệm, phóng xả thân tâm linh kỳ tự tại, Tâm như mộc thạch, vô sở biện biệt. Tâm vô sở hành. Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự hiển. Như vân khai nhật xuất (...)".
(5)
Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (814 - 890): Xem Truyền đăng lục11 tờ282a - 283c); Huệ Tịch ngữ lục, ĐTK 1910, tr. 582a và tr. 584c23.

Trả lời với trích dẫn