46.THIỀN SƯ MA HA {Tên cũ là Ma Ha Ma Gia}
Chùa Quan ái, làng Ðào gia, Cổ miệt, tổ tiên là giống người Chiêm thành, sau mạo tánh họ Dương. Cha tên Bối Ðà, rành về sách bối, làm quan dưới triều Lê với chức Bối{Xưa gọi là Ðà Phan}(1). Lớn lên, Sư là người có hiểu biết thấu đáo mọi việc, học thông cả hai ngôn ngữ Hán và Phạn.
Năm 24 tuổi, Sư nối nghiệp cha, tiếp tục trụ trì ngôi chùa cũ. Thường vào những lúc diễn tập kinh bối, Sư thấy Hộ pháp, Thiện thần quở rằng: "Sao dùng cái học bên ngoài đó(2), chắc chắn không hiểu được nghĩa lý". Sư do đó bị mù, rất tự hối lỗi. Khi sắp gieo mình xuống vực sâu mà chết thì gặp Viễn Biệt chùa Ðông lâm ngăn rằng: "Ðừng ! Ðừng !". Sư nghe lời đó liền tỉnh ngộ.
Về sau, Sư đến chùa Cổ sơn thọ giáovới Ðỗ Pháp Thuận. Sư chuyên việc sám hối và trì tụng Ðại bi tâm chú(3), trải ba năm chưa từng một chút biếng trễ bèn được Bồ tát Quan Âm lấy nước sạch cành dương rưới lên đầu mặt, mắt bỗng nhiên sáng lại và lòng càng thêm thanh tịnh.
Năm Thuận Thiên thứ 5 (1014), Sư dời về ở núi Ðạt vân tại Trường an, ngày ngày siêng năng tu tập, đạt được Tổng trì tam muội và các ảo thuật, người đời không lường nổi.
Hoàng đế Lê Ðại Hành(4) ba lần mời Sư vào cung thưa hỏi, Sư chỉ chấp tay cúi đầu mà thôi. Bắt đến lần thứ ba, Sư mới đáp: "Cuồng tăng ở chùa Quan ái". Vua cả giận, sai giam Sư ở chùa Vạn tuế trong Ðại nội, cho người khóa cửa canh gác. Ðến sáng thì đã thấy Sư ở ngoài phòng Tăng mà cửa vẫn khóa kín như cũ. Vua rất ngạc nhiên, bèn cho phép Sư đi đâu thì đi.
Sư đi về phía Nam đến Ái châu, ở trấn Sa đảng. Phong tục trấn đấy ưa thờ cúng quỷ thần, lại chuyên nghề sát sinh.
Sư khuyên họ ăn chay, họ đều nói: " Thiên thần của chúng tôi, họa phước không dám trái".
Sư bảo: "Các ngươi nếu có thể bỏ ác làm lành, giả như có quỷ thần xúc hại, lão tăng sẽ tự chịu thế cho".
Dân làng thưa: "Gần đây có người bệnh lâu sắp chết, thầy thuốc, đồng bóng đều bó tay. Nếu ông chữa được bệnh này, chúng tôi sẽ theo lời khuyên".
Sư bèn lấy nước đọc chú rồi phun vào, người bệnh tức khắc bớt ngay. Họ tuy cảm phục nhưng thói cũ ăn sâu, chưa thể chóng đổi.
Có hương hào họ Ngô, nhân uống rượu say, đem rượu thịt đến trước mặt ép Sư: "Hoà thượng có thể theo được cuộc vui này thì chúng tôi sẽ tuân theo lời ngài dạy".
Sư bảo: "Ðã mời thì chẳng dám từ, chỉ sợ đau bụng đấy thôi".
Họ Ngô mừng thưa: "Có đau thì Ngô tôi tự thay cho".
Sư nhận lời làm theo rồi bỗng giả bộ làm bụng sình to, trong bụng tiếng sôi như sấm, hơi thở hào hễn, van to: "Ông Ngô đâu chịu thay cho ta". Họ Ngô xanh mặt, chẳng biết làm gì.
Sư tự chấp tay niệm: "Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng(5), cứu con với". Giây lát, bèn mửa ra thịt thì biến thành thú chạy, cá thì thành cá nhảy, rượu thì hóa ra nước đồng. Mọi người rất kinh hãi.
Sư bảo: "Thân các ngươi bị bệnh, theo ta thì lành ngay. Ðến khi ta đau bụng, các ngươi không thay thế ta được. Các ngươi nay chịu theo lời dạy của ta chưa?"Tất cả dân làng đều bái tạ xin vâng.
Năm Thiên Thành thứ 2 (1029), Ðô úy Nguyễn Quang Lỵ(6) thỉnh Sư trụ trì chùa Khai thiên ở phủ Thái bình. Ðược sáu năm, Sư lại từ chức lui về Hoan châu. Sau không biết Sư mất ở đâu (Nam tôn đồ nói pháp tự của Nam dương, ấy là lầm).
[/COLOR]
_________________
Chú thích :
(1)
Bối thông thường là một phiên âm tiêu chuẩn của chữ Phạn Bhanna tiếng phạn và Bhanna tiếng ba lị. Xem Thập luật tụng 37 tờ 269c18-19: Phật ngôn: "Thính nhữ tác thanh bối". So sánh với Cullavagga.v. 3: Bhagavato etam attham ârocesum: anujânâmi bhikkhave sarabhannam ti. Nó thông thường cũng là một gọi tắt của chữ Bối nặc. Xem Tứ phần luật 3 tờ 587 b21-23 và Sa di tắc bộ hoà ê ngũ phần luật. Và Bối nặc đúng ra là phiên âm tiêu chuẩn của Bhannaka hay Bhãnnaka. Vậy Bối và Bối nặc là gì? Cứ những tư liệu vừa dẫn Bối hay Bhanna là một lối đọc kinh Phật giáo với những nốt nhạc, nên nó cũng thường được gọi là Thanh bối hay Svarabhanna tiếng phạn và Sarabhanna tiếng ba lị. Nó khác với lối đọc kinh theo lối ca hát với giọng dài của những người theo Vệ đà, mà Thập tụng luật cho là có tác dụng chính yếu là "làm cho mình và người khác tham trước", trong khi tác dụng của nó là làm cho người đọc và người nghe khỏi mệt mỏi và giữ được sự trong sáng và âm điệu của ngôn ngữ. Còn Bối nặc hay Bhannaka có nghĩa người đọc tụng theo nốt nhạc, có thể nói đó là người hát lễ nhạc Phật giáo. Vậy nếu Bối Ða giữ chức Bối trong triều đình nhà tiền Lê, thì Bối đây chắc hẳn là chức quan coi về lễ nhạc Phật giáo. Sau này, ta thấy Ma Ha cũng nối nghiệp cha tiếp tục hát bối ở chùa mình, thì cũng đủ rõ bối đây tượng trưng cho lễ nhạc Phật giáo. Cũng cần thêm là, sau chữ bối, Thiền uyển tập anh còn chú thêm rằng, "Xưa gọi là Ðà phan". Chữ Ðà có lẽ là một khắc sai của chữ Xà. Và "Xà phan" quả là một phiên âm khá trung thực chữ Sarabhanna tiếng ba lị hay Svarabhanna tiếng Phạn.
(2)
Tán Bối vẫn là một thứ ngoại học, một cái học bên ngoài, tối thiểu là cứ theo luật tạng. Xem Thập tụng luật 37 tờ 269c6-21.
(3)
Ðại Bi tâm chú, gọi đủ là Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni, Ðại bi chú v.v…Ðây là bài chú rút ra từ kinh Thiên thủ. Nó gồm cả thảy 82 câu chữ phạn do Già Phạm Ðạt Ma phiên âm trong kinh Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni hiện nay trong ÐTK 1060 tờ 107b 25-26. Ngoài bản dịch của Già Phạm Ðạt Ma ra, mà ngày nay đã trở thành bản văn chính thức dùng trong hầu hết các chùa chiền Việt nam và Trung Quốc, nó còn có những bản dịch khác của Bất Không, Trí Thông v.v…Cứ vào sự thông dụng ngày nay, chúng tôi giả thiết nó chắc cũng thông dụng thời Lý.
(4) Hoàng đế Lê Ðại Hành, nghi là một chép sai, bởi vì trước đó đã nói là đến năm 1014 Ma Ha mới về tu tại núi Ðại vân, thì sự việc tiếp theo phải xảy ra với Lý Thái Tổ mới hợp lý. Hơn nữa, ta biết chùa Vạn tuế ở trong Ðại nội là do Lý Thái Tổ dựng vào năm 1011, như Ðại Việt sử lược 2 tờ 3a6 và Toàn thư B2 tờ 5a2 đã ghi. Do thế, việc giam Ma Ha "tại chùa Vạn tuế trong Ðại nội" phải xảy ra sau năm 1011 ấy. Ngoài ra, núi Ðại vân vào thời Lê Ðại Hành là nơi Lê Ðại Hành xây dựng cung điện, như đã thấy, thì làm sao Ma Ha có thể "dời về ở núi Ðại vân tại Trường an ngày ngày siêng năng tu tập" được? Từ đó, Lê Ðại Hành chắc là một chép lộn của Lý Thái Tổ.
(5)
Nam mô Phật, Phạn: namo buddhàya, nghĩa là kính lễ các Ðức Phật.
Nam mô Pháp, Phạn: namo dharmàya, nghĩa là kính lễ giáo pháp.
Nam mô Tăng, Phạn: namo sanghàya, tức kính lễ đoàn thể hòa hợp.
(6) Toàn thư B2 tờ 1363 viết: Năm Thiên Thành thứ nhất (1028) lấy Nguyễn Quang Lỵ làm Thái úy. Ðây là đô úy Nguyễn Quang Lỵ, chữ đô có lẽ là một cách viết sai của chữ thái.

Trả lời với trích dẫn