DIỄN ĐÀN PHẬT PHÁP THỰC HÀNH - Powered by vBulletin




Cùng nhau tu học Phật pháp - Hành trình Chân lý !            Hướng chúng sinh đi, hướng chúng sinh đi, để làm Phật sự không đối đãi.


Tánh Chúng sinh cùng Phật Quốc chỉ một,
Tướng Bồ Đề hóa Liên hoa muôn vạn.

Trang 8/16 ĐầuĐầu ... 678910 ... CuốiCuối
Hiện kết quả từ 71 tới 80 của 160
  1. #1
    Ban Điều Hành Avatar của hoatihon
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    2.150
    Thanks
    1.129
    Thanked 1.675 Times in 683 Posts

    Như Huyễn





    Bọt vỡ tan rồi!, Mộng dở dang ...

  2. #2
    Ban Điều Hành Avatar của hoatihon
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    2.150
    Thanks
    1.129
    Thanked 1.675 Times in 683 Posts

    Vãn Quảng Trí Thiền Sư





    Bọt vỡ tan rồi!, Mộng dở dang ...

  3. #3
    Avatar của hungcom
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    198
    Thanks
    136
    Thanked 208 Times in 79 Posts
    21. THIỀN SƯ Không Lộ ( ? - 1119)

    Chùa Nghiêm quang, Hải thanh, họ Dương. Dòng dõi làm nghề chài, sau bỏ nghề chài, hướng lòng theo Phật, thường trì tụng đà la ni môn. Trong khoảng Chương Thánh Gia Khánh (1059 - 1065) cùng bạn đạo là Giác Hải cất bước vân du, tạm đến chùa Hà trạch (1)nương thân, mặc áo cỏ, ăn lá cây, đến nỗi quên chính thân mình. Ngoài dứt ruỗi dong, trong tu thiền định, tâm thần tai mắt ngày một nhẹ nhàng, bèn bay lên không, đi trên nước, làm cọp nép, kêu rồng xuống, muôn quái nghìn kỳ, người không lường nổi (2).
    Sau Sư về quận mình lập chùa. Một hôm, có thị giả thưa rằng: "Từ ngày con đến đây, chưa được
    thầy dạy bảo chỗ tâm yếu, nhưng con mạn phép xin trình một bài kệ:

    "Rèn luyện thân tâm mới được trong
    Sum suê cây thẳng ngó sân không
    Có người đến hỏi Không vương pháp, (3)
    Ảnh rập hình ngồi cạnh chấn phong".


    Sư xem xong bảo: "Ngươi đem Kinh đến, ta vì ngươi nhận, ngươi mang nước đến, ta vì ngươi uống, thì có chỗ nào mà ta lại không cho ngươi tâm yếu?" (4). Bèn cất tiếng cười ha hả. Sư thường nói kệ rằng:

    "Chọn chỗ đáng nương, đất rắn rồng,
    Tình quê suốt buổi mãi vui rong
    Có khi lên thẳng đầu non quạnh
    Huýt một hơi dài lạnh cõi không"
    (5) (*).

    Ngày mồng 3 tháng 6 năm Kỷ hợi, Hội Tường Đại Khánh thứ 10 (1119), Sư viên tịch. Môn đồ thu thập xá lợi táng trước cửa chùa.
    Sau đó, vua ban chiếu sửa rộng chùa này và đặc cách cho thuế hộ 20 người để trông coi hương khói. (Vị Sư này không có niên đại có thể truy cứu, nay dựa theo thứ tự truyền pháp trong Nam tôn đồ mà mô tả ra đây)
    (6).

    ________________

    [SIZE="3"]Chú thích :

    (1)
    Chùa Hà trạch này chắc là chùa của Lôi Hà Trạch, tên một vị Thiền sư mà Thông Biện nói tới như người đồng thời với Mai Viên Chiếu và Nhan Quảng Trí. Xem chú thích (22) truyện Thông Biện. Việt sử tiêu án1 tờ 109b3 ghi lời bàn của Ngô Thời Sỹ thế này:
    "Triều Lý sùng Phật, từ Vạn Hạnh nổi tiếng, người ta ưa theo. Tiếp đến có Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải đều người Hải thanh, thờ sa môn Hà Trạch làm thầy. Lại có Chân nhân Thông Huyền cũng nổi tiếng phép thuật, nên Nhân Tôn có lời khen: "Giác Hải tâm như hải, Thông Huyền đạo lại huyền". Nhưng kêu rồng xuống làm cọp nép, đấy chẳng phải tài phò nguy định loạn. Đi trên không, bay giữa trời, đấy chẳng cách trị dân giữ nước ..."

    (2)
    An nam chí nguyên 3 tờ211 dẫn đoạn này nói về Không Lộ. Nó viết: "Thiền sư Không Lộ là sư huyện Giao thủy, có thể bay giữa không, đi trên nước, làm cọp nép, kêu rồng xuống, muôn quái nghìn kỳ, người không lường nổi".

    (3)
    Không Vương pháp, pháp của Không Vương, tức của Phật, đo đạt được bản tính không của vạn hữu mà thiết lập. Xem câu hỏi trong truyện Diên Chiểu ở Truyền đăng lục :

    Bất tằng bác lãm Không Vương giáo
    Lược tá huyền cơ thế đạo khan


    (4)
    Bài kệ rập theo bài thơ tặng Duy Nghiễm của Lý Cao trong Truyền đăng lục. Cao hỏi Nghiễm: "Thế nào là đạo?". Nghiễm giơ tay chỉ trên dưới nói: "Hiểu không?". Cao đáp: "Không hiểu". Nghiễm nói: "Mây trên trời, nước trong bình". Cao bèn mừng rỡ sụp lạy và viết bài kệ:

    Luyện đắc thân hình tợ hạc hình
    Thiên chu tùng hạ lưỡng hàm kinh
    Ngã lai vấn đạo vô dư thuyết
    Vân tại thanh thiên thủy tại bình
    (Rèn được thân hình giống hạc hình
    Dưới tùng ngàn cỗi đôi hòm kinh
    Ta đi hỏi đạo không thêm nói
    Mây tại trời xanh, nước tại bình)


    Thiền sư Sùng Tín nói với Thầy mình là Đạo Ngô: Tôi từ thuở tới đây không được thầy chỉ thị tâm yếu? Ngô đáp: "Từ lúc ngươi tới đây ta chưa từng không chỉ thị tâm yếu cho ngươi". Tín nói: "Chỉ thị chỗ nào?". Ngô đáp: "Ngươi mang trà đến ta tiếp cho ngươi, ngươi mang cơm đến ta nhận cho ngươi. Lúc nào ngươi chào ta, ta liền cúi đầu. Thế thì chỗ nào là ta không chỉ thị tâm yếu?".
    Xem thêm truyện Thiền sư Thiện Hội nói với một tiểu thị giả: "Ngươi nấu cơm, ta nhóm lửa. Ngươi dọn bàn, ta dở bát. Ta phụ rãy ngươi ở chỗ nào đâu?".

    (5)
    Thiền sư Dược Sơn một đêm kinh hành trên núi, mây vẹt trăng tỏ, bèn cười vang, truyền dài 90 dặm đông tới Phong dương. Thứ sử Lý Cao nhân đó làm bài thơ tặng:

    Tuyển đắc u cư hiệp dã tình
    Chung niên vô tống diệc vô nghinh
    Hữu thời, trực thượng cô phong đỉnh
    Nguyệt hạ phi vân tiếu nhất thanh.


    (6)
    Bản in đời Nguyễn của An Thiền dưới cái tên Trùng khắc đại nam thiền uyển truyền đăng tập lục quyển thượng chép về một truyện sử hoàn toàn khác với truyện sử đây về Không Lộ. "Trong khoảng Thái Ninh đời vua Lý Nhân Tôn, có Thiền sư Không Lộ, người Lại trì, huyện Chân định, tỉnh Nam định, họ Nguyễn, thường cùng với Giác Hải và Từ Đạo Hạnh kết làm đồng chí. Năm ông 29 tuổi ba người đi qua nước Thiên trúc, theo học với một vị Sa môn. Được lục trí thần thông rồi, bèn
    quay trở về quê mình, dựng chùa Diên phúc, chuyên trì chú Đại bi. Bấy giờ Không Lộ muốn tạo cho nước Đại nam bốn món đồ, chỉ hiềm vì dân nghèo sức mọn. Một hôm ông nghĩ tới nước Tống đất rộng tất có nhiều đồng tốt có thể dùng cho việc đúc tạo, bèn liền rút ngắn đường, đi lên phương Bắc, khách trú ở nhà một trưởng giả, rồi xin đất sáu tấc để dựng chùa. Vị trưởng giả cười nói rằng: "Xưa Lương Thái tử dựng chùa, đất rộng ngàn dặm, vàng ròng khắp đất. Sao bây giờ lại lấy sáu tất đất như thể chỗ chuồng gà mà làm chi?". Đêm đó Sư bèn tung áo cà sa phủ khắp mười dặm đất. Vị trưởng giả thấy ông có phép làm thần, bèn đem hết vợ con đến lạy tạ. Từ đó, cả nhà đều qui y Tam bảo.
    Ngày hôm sau, ông mặc pháp phục, cầm gậy vào triều, thẳng đứng giữa sân rồng. Vua bấy giờ đang buổi thị triều chính văn võ hai ban, thấy vị Sư già, bèn triệu vào hỏi: "Lão ông là dân người phương nào, tên họ là chi, đến đây có việc gì?" Vị
    Sư già thưa: "Tôi là bần tăng của một nước nhỏ, xuất gia đã lâu năm, nay muốn tạo bốn món đồ cho Đại Nam, nhưng vì sức không theo lòng, cho nên tôi không ngại vượt núi băng rừng ngàn dặm đến đây. Ngưỡng mong Thánh đế mở rộng tấm lòng bố thí cho một ít đồng tốt, để tiện việc tạo đúc". Vua hỏi: "Đồ đệ đi theo có bao nhiêu vị?". Sư đáp: "Chỉ một mình bần tăng thôi, xin đầy một bao đồng, tự mình vác về là đủ". Vua nói: "Phương Nam đường sá xa xuôi, cho phép Sư tùy sức mà lấy, chẳng cần đếm ghi". Vị quan giữ kho thấy nhà Sư nghèo đã lấy hết kho đồng rồi, mà vẫn chưa đầy một bao, bèn le lưỡi lắc đầu, vào triều tâu việc đó. Vua ngạc nhiên hối tiếc, nhưng nghiệt vì đã hứa cho, nên không thể làm sao được. Vua đem trăm quân tiễn đưa về nước. Vị Sư nghèo từ chối, nói rằng: "Một bao đồng, tự mình đủ sức mang đi, chẳng nhọc đưa gánh". Vị Sư nghèo đi ra ngoài rồi, bèn lấy gậy quảy bao mà đi một cách nhẹ nhàng. Qua sông bèn lấy nón làm ghe, rồi trở về.
    Trong phút chốc đã tới bến Hoàng giang, bèn tới chùa Quỳnh lâm, huyện Đông triều, tỉnh Hải dương, đúc tượng Đại Phật Di Đà, tháp Báo thiên ở kinh đô một ngọn, chuông lớn chùa Phổ lại một quả, vạc lớn chùa Phổ minh một cái. Số đồng còn lại đem đúc hồng chung cho chùa ở xã mình, nặng ba ngàn ba trăm cân. Lại đúc cho chùa Diên phúc, huyện Giao thủy một quả hồng chung nặng ba ngàn cân. Công quả hoàn thành, bèn làm bài kệ tán rằng:

    Cỡi nón vượt biển lớn
    Một giây muôn dặm đường
    Tống đồng một bao hết
    Tay múa sức ngàn cân.


    Bấy giờ Hoàng đế Nhân Tôn xây điện Hưng Long năm sau mới xong, cực kỳ tráng lệ. Bỗng nghe trên rường hai con ễnh ương kêu lớn, tiếng như sấm to. Vua ủ rũ không vui. Lúc ấy, vị chỉ huy sứ tâu: "Chỉ có Không Lộ và Giác Hải mới trừ được loài quái vật đó".
    Chỉ huy sứ tức thì nhận lệnh vào hôm rằm tháng giêng đến trước am sư, Sư hỏi: "Chỉ huy đến sao trễ thế?" Vị chỉ huy trả lời:
    "Thầy sao biết trước chức tước của tôi?" Sư đáp: "Ta cỡi trăng đạp mây nhân vào thành vua, nên sớm biết việc đó". Ngày đó Sư đến kinh đô. Vua đem một cây đinh lớn đóng vào cột điện, nói rằng: "Ai có thể nhổ cái đinh đó ra thì làm Pháp chủ". Không Lộ lấy tay bật cái đinh ra một cách nhẹ nhàng và mật tụng thần chú thì hai con ễnh ương nghẹn cổ không còn kêu và giây lát rớt xuống đất. Vua thưởng vàng ròng một ngàn cân, ruộng đèn nhang năm trăm mẫu và phong làm Quốc sư.
    Bấy giờ vua Thần Tôn tuổi mới 21, bỗng nhiên biến làm một con cọp dữ, xông xáo cắn người, nanh vuốt dễ sợ. Vua phải làm một cái chuồng vàng mà nhốt đi. Thì nghe con nít huyện Chân định hát rằng:

    Nước có Lý Thần Tôn
    Triều đình muôn chuyện thông
    Muốn yên bệnh thiên hạ
    Phải được Nguyễn Minh Không
    Y pháp bất y nhân, Y nghĩa bất y ngữ, Y Trí bất y Thức,
    Y liễu nghĩa Kinh, bất y vị liễu nghĩa Kinh.

  4. #4
    Ban Điều Hành Avatar của hoatihon
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    2.150
    Thanks
    1.129
    Thanked 1.675 Times in 683 Posts

    Ngư nhàn




    Bọt vỡ tan rồi!, Mộng dở dang ...

  5. #5
    Avatar của hungcom
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    198
    Thanks
    136
    Thanked 208 Times in 79 Posts


    22. THIỀN SƯ Bản Tịnh (1100 - 1176)


    Am Bình dương, núi Chí linh, Kiệt đặc. Người Phù Diễn, Vĩnh khương, họ Kiều. Sư nhỏ hiếu học, rõ lẽ sinh tử nhà Phật, theo dấu nhân nghĩa nhà Nho, nhận được ý chỉ nơi Thiền sư Mãn Giác chùa Giác nguyên. Năm Đại Định thứ 2 (1141), Sư thẳng đến núi đó trác tích. Hữu bật Ngụy Quốc Bảo hâm mộ phẩm cách và đức độ của Sư, nên kính Sư như bậc thầy. Sau Sư nhận lời mời của Thành Dương công chúa, đến trụ trì chùa Càn an, thường phát đại nguyện rằng:

    "Đời đời kiếp kiếp
    Ý Phật không mê
    Tự giác, giác tha,
    Không chia đó đây,
    Đề huề phương tiện,
    Một nẻo cùng về".
    (*)

    Vào một hôm trong tháng Giêng năm Trịnh Phù thứ 1 (1176), Sư không bệnh, gọi chúng đến dạy:

    Một nẻo, một nẻo
    Mèo đá đuôi vẫy
    Xông đến vồ chuột
    Hóa ra là quỷ
    Nếu tỏ rõ được
    Vàng từ lệ thủy
    (1) (**).

    Rồi nói bài kệ sau:

    Thân huyễn vốn từ Không tịch sinh,
    Giống như trong kính hiện ra hình,
    Hiểu rành hết thảy đều không huyễn,
    Thật tướng phút giây thân huyễn thành
    (2) (***).

    Nói kệ xong, Sư tịch, thọ 77 tuổi
    (3)

    _____________

    Chú thích :

    (1)
    Kim sinh Lệ thủy, chữ và ý rút ra từ thiên Đảo ngôn trong Hàn phi tử, theo đây thì trong sông Lệ của đất Kinh nam có vàng. Có lệnh cấm đãi vàng, mà nếu phạm tội thì phải tội phanh thây ở chợ. Nhưng người ta vẫn tiếp tục đãi trộm vàng, vì nghĩ rằng mình có thể không bị bắt. Cho nên Hàn phi tử kết luận: "Vì không bắt hết được, thì tuy có hình phạt phanh thây, chuyện ăn trộm vàng vẫn không chấm dứt".

    (2)
    Nguyên văn:

    Huyễn thân bản tự không tịch sanh
    Do như kính trung (nội tâm) xuất hình tượng
    Giác liễu nhất thiết không
    Huyễn thân tu du chứng thật tướng.


    Cả bản đời Lê lẫn bản đời Nguyễn đều chép như vậy. Chúng tôi tham chiếu bài kệ thị pháp của Phật Tỳ Bà Thi trong Truyền đăng lục 1 tờ 204c22-23, theo đó:

    Thân tùng vô tướng trung sanh thọ
    Do như huyễn xuất chư hình tượng
    Huyễn nhân tâm thức bản lai vô
    Tội phúc giai không vô sở trụ.


    Và đề nghị tái thiết lại bài kệ thị tịch của Bản Tịnh như sau:

    Huyễn thân bản tự không tịch sanh
    Do như kính trung xuất hình tượng
    Giác liễu tâm nội nhất thiết không
    Huyễn thân tu du chứng thật tướng.


    (3)
    Cứ đây thì Bản Tịnh mất năm 1176 và thọ 77 tuổi. Do đó Tịnh sinh năm 1100. Nếu thế làm sao có thể nói "Tịnh nhận được ý chỉ nơi Thiền sư Mãn Giác của Giác Nguyên?" Bởi vì Mãn Giác mất năm 1096 lúc ông 45 tuổi, nghĩa là mất lúc Tịnh chưa ra đời. Vậy hoặc năm mất của Giác chép sai, hoặc tuổi thọ của Tịnh ghi lộn. Chúng tôi nghĩ rằng cả hai trường hợp đều có thể. Tuổi thọ của Tịnh có thể đúng ra là 97, nhưng vì chữ Hán viết chữ cửu dễ lộn với chữ thất, nên đã chép lộn thành 77. Nếu Tịnh quả sống đến 97 tuổi thì ông phải sinh vào năm 1080, nghĩa là sinh ra 16 năm trước khi Giác mất. Nhưng với tuổi 16 này, dù lịch sử phái thiền cũng có ghi một số vị đắc pháp với số tuổi đó hay ít hơn như trường hợp Đạo Tín, chúng tôi vẫn nghĩ nó còn ít quá để cho một người đắc pháp. Vì thế, năm mất của Mãn Giác có thể bị chép sai.

    ----------------

    Chú thích của hungcom :

    (*)

    世世生生,
    不昧佛旨。
    自覺覺他,
    無間彼此。
    方便提攜,
    入於一揆。


    Thế thế sinh sinh,
    Bất muội Phật chỉ.
    Tự giác giác tha,
    Vô gian bỉ thử.
    Phương tiện đề huề,
    Nhập ư nhất quỹ.



    (**)

    一揆一揆,
    石貓搖尾。
    擲身捉鼠,
    還化為鬼。
    若要分明,
    金生麗水。


    Nhất quỹ, nhất quỹ,
    Thạch miêu dao vĩ.
    Trịch thân tróc thử,
    Hoàn hoá vi quỷ.
    Nhược yếu phân minh,
    Kim sinh Lệ thủy.



    (***)

    幻身本自空寂生,
    猶如鏡中出形像。
    形像覺了一切空,
    幻身須臾證實相。


    Huyễn thân bản tự không tịch sinh,
    Do như kính trung xuất hình tượng.
    Hình tượng giác liễu nhất thiết không,
    Huyễn thân tu du chứng thực tướng.

    Y pháp bất y nhân, Y nghĩa bất y ngữ, Y Trí bất y Thức,
    Y liễu nghĩa Kinh, bất y vị liễu nghĩa Kinh.

  6. #6
    Avatar của hungcom
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    198
    Thanks
    136
    Thanked 208 Times in 79 Posts


    24. THIỀN SƯ Tín Học (? - 1200)


    Chùa Quán đỉnh, núi Không Lộ. Người châu Minh, phủ Thiên đức, họ Tô. Đời đời chuyên nghề khắc kinh. Nhỏ thờ Thanh giới, không giao du bừa bãi.
    Năm 32 tuổi, theo Du thiền sư đến núi Tiên du, thế phát với Đạo Huệ. ở hầu hạ ba năm. Sư sâu hiểu tôn chỉ, nhân đó một mình chống gậy du phương, đến ở chùa Quán đỉnh.
    Có lần ở trước tượng Phật, Sư đốt ngón tay và phát nguyện rộng lớn rằng: "Trần lao nhiều kiếp, dứt không vướng lại". Sư chuyên tu pháp Tam quán trong kinh Viên giác. Mỗi ngày chỉ ăn một bữa, hình dung khô gầy. Nhiều năm như thế, hoàn toàn không có vẻ gì chán nản, nên sau đạt phép Tam quán chính thọ (1).
    Công khanh sĩ thứ, rất ngưỡng mộ phong thái cao nhã của Sư, đua nhau theo hầu. Sư thường dạy:

    Có lợi tất có nhiễm
    Có nhiễm tất có lợi
    Có lợi có nhiễm
    Bồ tát không làm
    Không lợi không nhiễm
    Bồ tát mới làm.


    Ngày 9 tháng giêng năm Canh thân (2), Thiên Tư Gia Thụy thứ 15 (1200), Sư cáo bệnh, gọi chúng đến đọc bài kệ :

    "Núi rừng cọp beo
    Vằn vện lẫn lộn
    Nếu muốn phân biệt
    Con kêu mẹ mổ"
    (3)(*)


    Nói xong Sư tịch.


    __________________

    Chú thích :

    (1)

    Chính thọ là một dịch nghĩa của chữ Tam muội (samàdhì). Quán kinh huyền nghĩa phần nói:
    "Gọi là Chính thọ, khi tưởng và tâm đều dứt, duyên và lự đều quên, tương ứng với Tam muội, thì gọi là Chính thọ".

    (2)
    Nguyên văn: Thiên Tư Gia Thụy ngũ niên Canh thân. Nhưng cứ Đại Việt sử lược 3 và Toàn thư B4 thì Thiên Tư Gia Thụy thứ 5 tất phải nhằm năm Canh tuất, chứ không phải năm Canh thân. Nếu là năm Canh thân, thì nó phải là năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 15 (1200). Ở đây, chúng tôi nghĩ rằng vì chữ tuất khó viết lộn thành chữ thân nên cho rằng nguyên văn có lẽ thiếu chữ thập trước chữ ngũ, nên đềnghị đọc lại thành Thiên Tư Gia Thụy thập ngũ niên, và dịch theo đó.

    (3)
    Nguyên văn: Tử tối mẫu trác. Đại sư Hương Nghiêm tập Đăng. Trí Nhàn tụng, "Độc cước":
    Tử tối mẫu trúc
    Tử giác vô xác.

    ----------------------

    Chú thích của hungcom :

    (*)

    Sơn lâm hổ báo,

    Hoành văn ban bác.

    Nhược dục phân biệt,

    Tử thốt mẫu trác.


    "Con kêu mẹ mổ" nguyên văn là "Tử thốt mẫu trác" :

    Khi gà con "khẻ mỏ", nó mổ vào vỏ trứng và cất tiếng kêu đầu đời "chíp, chíp !" thì gà mẹ mổ vỏ trứng giúp cho con sớm ra chào đời.

    Cụm từ này ẫn dụ :

    Khi hành giả đã công phu đến giai đoạn "chín" (thục) thì Bậc Giác Ngộ như Mẹ Hiền giúp vào một chút để cho hành giả chứng ngộ Chân lý. Sự thành tựu, nở hoa của một Chân Phật tử, là sự tương thông của Bậc Giác và đệ tử _ Tha Lực _ chứ không phải hoàn toàn do tự lực.
    Y pháp bất y nhân, Y nghĩa bất y ngữ, Y Trí bất y Thức,
    Y liễu nghĩa Kinh, bất y vị liễu nghĩa Kinh.

  7. #7
    Avatar của hungcom
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    198
    Thanks
    136
    Thanked 208 Times in 79 Posts


    26. THIỀN SƯ Đại Xả (1120 - 1180)



    Chùa Báo đức, núi Vũ Ninh, người phường Đông tác họ Hứa. Nhỏ xuất gia theo Đạo Huệ, núi Tiên du, tập tành Thiền học, biết sơ nét chính của nó. Sư thường ngồi trì tụng thần chú Diệu môn Phổ Hiền trong kinh Hoa nghiêm (1) làm công việc hàng ngày. Có lúc Sư xỏa tóc, bỏ ăn, cư trú không nơi nhất định. Các Vương công đua nhau đến hầu hạ Sư.
    Kiến Ninh Vương và Thiên Cực công chúa cũng hết lòng tôn kính. Sư thường ở Hổ nham tại Tuyên minh, lập chùa giáo hóa, học trò đến học rất đông. Có vị Sư nước Tống hiệu Nham ông, nghe tiếng cảm mộ, bèn đốt một ngón tay để cúng dường. Người ta nghi Sư có yêu thuật, nên trong khoảng Thiên Cảm Chí Bảo (1174 - 1175), Thái uý Đỗ Anh Vũ ra lệnh bắt vào trong cấm, hết lời nghiêm trách.
    Sư vẫn không có vẻ gì là sợ hãi. Thiên Cực tâu xin thả ra, nên Sư được khỏi.
    Một hôm, vua Lý Anh Tông cho mời Sư vào hỏi: "Trẫm nhiều phiền hoặc, có phép thuật gì trị chăng?"
    Sư tâu: "Phép 12 Nhân duyên là căn bản của sự tiếp nối sinh tử, nếu dùng nó để trị, thì đó là phương thuốc vậy".
    Vua lại hỏi về yếu chỉ của nó.
    Sư tâu: "Vô minh nhân duyên hành, cho đến lo, buồn, khổ, não. Muốn cầu quả Bích Chi Phật nên nói đến 12 nhân duyên, để trị thân này thì không còn nghiệp phiền não nữa". Vua nói: "Thế thì Trẫm phải tĩnh tâm tu tập".(*)
    Sư tâu: "Khi giữ được nghiệp thức an tịnh, tức là thanh trừng được phiền não, chớ không còn có phép nào khác đáng tu tập cả. Ngày xưa Lương Vũ Đế thường đem việc đó hỏi Thiền sư Bảo Chí (2), Bảo Chí cũng đáp như thế. Nay tôi cũng xin trộm trình với bệ hạ điều y hệt như vậy.(**)
    Đến ngày mồng 5 tháng 2 năm Trinh Phù thứ 5 (1180) Sư dặn dò đệ tử rồi nói kệ:

    "Bốn rắn cùng lồng (3)vốn trống trơn,
    Núi cao năm uẩn (4)chẳng bà con,
    Linh minh chân tính không ngăn ngại
    Sinh tử Niết bàn nỡ vấn vương".
    (***)

    Lại nói:

    "Trơ trơ răng ngựa đá (5)
    Tháng ngày kêu ăn mạ
    Trên đường ai cũng qua
    Không đi người trên ngựa.
    (****)

    Đến canh 5, Sư uống thuốc độc rồi mất, thọ 61 tuổi.
    (*****)

    _____________

    Chú thích :

    (1)
    Hoa nghiêm Diệu môn Phổ Hiền thần chú, tức Tốc tật mãn Phổ Hiền hạnh nguyện Đà la ni, có lẽ do Bất Không thêm vào trong lời nguyện của Phổ Hiền trong bản dịch kinh Hoa nghiêm và sau này đã trích thành một bản văn riêng rẽ, mà người ta gọi là Phổ Hiền bồ tát hạnh nguyện tán : "Nẵng ma tát để rị giả địa vỹ ca nam đát tha nghiệt đa nam. Án a mậu phạ ra vĩ nghì dĩ sa phạ ha".

    (2)
    Bảo Chí (419 ?- 515), một nhà sư có những hành tung tương tự như của Đại Xả ở đây, có những liên hệ sấm ngữ với Lương Vũ Đế.

    (3)
    Hình ảnh lấy từ phẩm Quang minh biến chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ tát của kinh Đại Bát Niết Bàn, theo đấy có một ông vua đem bốn con rắn độc đựng chung vào một cái lồng, bảo người thị thần nuôi dưỡng. Nếu để cho chúng không vừa lòng thì người đó bị xử tử. Người đó bỏ chạy, vua cho năm người chiên đà la đuổi bắt lại. Đuổi không kịp, bèn sai một người giả bộ hiền lành đi dụ dỗ, thì người kia đi đến một làng trống vắng. Vừa tới, người kia nghe nói đêm đó sẽ có sáu tên cướp đến cướp. Bèn sợ hãi, chạy đến một con sông cuồn cuộn nước, bèn quyết ý vượt qua, bất giờ mới giải thoát thảnh thơi. Bốn con rắn độc ấy, kinh này nói là dụ cho bốn nhân tố vật chất tạo nên con người, đấy là đất, nước, gió, lửa. Từ Phật học Trung quốc gọi là tứ đại. Xem Đại Bát Niết Bàn kinh 23.

    (4)
    Hình ảnh lấy từ phẩm Sư Tử Hống Bồ Tát của kinh Đại Bát Niết Bàn, ở đấy, sự sinh, già, bệnh, chết của con người được ví với bốn ngọn núi lớn "từ bốn phương đến muốn hại nhân dân". Ngũ ấm, tức năm nhân tố tâm vật lý tạo nên con người, đấy là vật chất, cảm giác, tưởng tượng, ý chí, và tri giác hay nhận thức. Từ Phật học Trung quốc thường gọi sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

    (5)
    Ngựa đá, trâu đất, Thiền gia thường dùng để chỉ cho công vị của thiền. Thiền sư Thúy Nham, Công huấn vấn đáp:

    "Nê ngưu ẩm tận trừng đàm nguyệt
    Thạch mã gia tiên bất chuyển đầu".


    (Trâu đất uống hết trăng đầm lặng
    Ngựa đá roi quất chẳng ngoảnh đầu).

    ------------------

    Chú thích của hungcom :

    (*)
    Thiền sư dạy Thập Nhị Nhân Duyên cho nhà vua vì Giáo lý này phù hợp với căn cơ của Lý Anh Tông.


    (**)
    Chỗ này Ông Lê Mạnh Thát có chú thích bằng một trích đoạn tối nghĩa, nên h/c xin phép bỏ ra.


    (***)


    四 蛇 同 篋 本 來 空,
    五 蘊 山 高 亦 不 宗.
    眞 性 靈 明 無 罣 礙,
    涅 槃 生 死 任 遮 龐.


    Tứ xà đồng khiếp bổn lai không,
    Ngũ uẩn sơn cao diệc bất tông.
    Chân tánh linh minh vô quái ngại,
    Niết-bàn sanh tử nhậm già lung.



    (****)

    石 馬 齿 狂 拧,
    食 苗 日 月鸣.
    途 中 人 共 过,
    馬 上 人 不 行.


    Thạch mã xỉ cuồng ninh,
    Thực miêu, nhật nguyệt minh.
    Đồ trung nhân cộng quá,
    Mã thượng nhân bất hành.


    Câu "Mã thượng nhân bất hành" nghĩa là "Tuy ngồi trên lưng ngựa nhưng chẳng có đi đâu" mà ông Thát lại dịch là "Không đi người trên ngựa", thiệt là "hết ý cái ông này !", đã làm cho người sau đọc vào "càng đọc càng ngu".


    (*****)
    Nói "Sư uống thuốc độc rồi mất" là SAI. Vì :

    1._ Giáo lý đạo Phật cấm tự sát.
    2._ Một vị Giác Ngộ, nếu không hiện bệnh bỏ xác thì cũng "thâu thần tịch diệt", chớ không bao giờ nhờ đến thuốc độc hay mượn người khác giết mình (đây là cách hành xử của Ngoại Đạo, đã bị Phật quở)

    Y pháp bất y nhân, Y nghĩa bất y ngữ, Y Trí bất y Thức,
    Y liễu nghĩa Kinh, bất y vị liễu nghĩa Kinh.

  8. #8
    Avatar của hungcom
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    198
    Thanks
    136
    Thanked 208 Times in 79 Posts


    Thế Hệ Thứ Mười (Gồm 12 người, 2 người khuyết lục)

    23. THIỀN SƯ Minh Trí (? - 1196) (Trước tên Thiền Trí)

    Chùa Phúc thánh, Điển lãnh, Người làng Phù cầm, họTô. Sư bẩm tính thông tuệ, đọc khắp các sách. Đến tuổi 20, gặp Đạo Huệ thượng sĩ, bèn bỏ tục xuất gia, gõ trúng bảng huyền. Hiểu rõ tôn chỉ các kinh Viên giác, Nhân Vương (1), Pháp hoa và sách Truyền đăng. Sư giảng dạy đồ chúng không biết mệt mỏi, nên được ban hiệu Minh Trí.
    Một hôm, Sư cắt cỏ, có một vị Tăng khoanh tay đứng bên trái. Sư ném chiếc liềm đến trước mặt vị Tăng, cắt đứt một gốc cỏ.
    Vị tăng thưa: "Cổ nhân dạy Hoà thượng chỉ cắt được một cái đó sao?"
    Sư cầm chiếc liềm đưa lên, vị Tăng nhận lấy, bèn đứng thế cắt cỏ.
    Sư nói: "Lại nhớ được câu sau đó chăng? Ngươi chỉ cắt được cái đấy, mà không cắt được cái kia sao?" (2) Vị tăng nghĩ rồi bỏ đi.
    Sư nói chuyện một vị Tăng, bên cạnh có một vị Tăng khác nói: "Nói hết sức tức là Văn Thù, im lặng hết sức tức là Duy Ma" (3)
    Sư bảo: "Không nói không im lặng, chẳng phải là ông sao?". Vị Tăng gật đầu.
    Sư bảo: "Sao chẳng hiện thần thông?"
    Vị Tăng thưa: "Chẳng từ chối việc hiện thần thông, chỉ sợ hoà thượng thâu vào giáo".
    Sư bảo: "Ngươi chưa phải là con mắt ở ngoài giáo điển (4). Bèn nói kệ:

    "Ngoài giáo khá riêng truyền
    Cao sâu vực Tổ Phật
    Nếu ngươi muốn rõ đích,
    Tìm khói giữa diệm dương."
    (5)(*)

    Một ngày tháng nào đó của năm Bính thìn Thiên Tư Gia Thụy thứ 11 (1196), lúc sắp tịch, Sư nói
    kệ sau:

    "Gió tùng trăng nước tỏ,
    Không ảnh cũng không hình
    Sắc thân là cái đó,
    Không không tiếng vọng tìm".
    (**)

    Nói kệ xong, Sư yên lặng mà mất.


    ________________

    Chú thích :

    (1)
    Tức Phật thuyết nhân vương bát nhã ba la mật kinh. Cưu Ma La Thập dịch, giả thiết rằng bản dịch này là bản lưu hành nhất vào thời Lý, bởi vì có một bản dịch thứ hai do Bất Không thực hiện khoảng năm 765 cũng có tên Phật thuyết Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật kinh.

    (2)
    Thiền sư Ẩn Phong(...), một hôm, trong khi Thạch Đầu cắt cỏ, Sư khoanh tay đứng một bên. Thạch Đầu liệng cái liềm đến trước mặt Sư, làm đứt một cọng cỏ. Sư nói: "Hoà thượng cắt được cái này, không cắt được cái kia". Thạch Đầu đưa cái liềm lên. Sư đón bắt được, làm thế cắt cỏ. Thạch Đầu nói: "Ngươi cắt được cái kia, không cắt được cái này".

    (3)
    Văn Thù, Duy Ma Cật và 32 vị Bồ tát thảo luận về pháp Bất Nhị. Các vị kia, mỗi vị, tuỳ trường hợp, đều nói: "lìa đối đãi là bất nhị". Văn Thù nói: "Vô ngôn, vô thuyết, vô thị, vô thức, vượt ngoài đối đáp là bất nhị". Rồi hỏi Duy Ma Cật. Duy Ma im lặng. Nhân đó Văn Thù tán thán. Xem Duy Ma Cật sở thuyết kinh quyển trung, phẩm Bất nhị pháp môn.

    (4)
    Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch trong lúc đang nói chuyện với một vị tăng; một vị tăng khác đứng bên cạnh, nói: "Nói là Văn Thù, im lặng là Duy Ma". Sư nói: "Không nói không im lặng, há không phải là ông sao?". Vị Tăng im lặng. Sư nói: "Sao không hiện thần thông?" Tăng nói: "Không từ chối gì sự hiện thần thông, chỉ sợ Hoà thượng thâu vào giáo điển". Sư nói: "Xét chỗ ngươi đến, thì chưa có con mắt ởn goài giáo điển". Xem Truyền đăng lục

    (5)
    Nguyên văn: Dương diệm mích cầu yên. Dương diệm tức là thứ ánh nắng mùa Xuân có trộn lẫn với bụi mờ giữa nội. Những con nai khát nước nhìn thấy ánh nắng đó tưởng là nước, rồi cứ đuổi theo cho đến lúc chết. Xem Lăng già kinh 2.

    -----------------

    Chú thích của hungcom :

    (*)


    教外可別傳,
    希夷祖佛淵。
    若人欲辨的,
    陽焰覓求煙。


    Giáo ngoại khả biệt truyền,
    Hy di Tổ Phật uyên.
    Nhược nhân dục biện đích,
    Dương diệm mịch cầu yên.


    (**)

    松風水月明,
    無影亦無形。
    色身這個是,
    空空尋響聲。


    Tùng phong thuỷ nguyệt minh,
    Vô ảnh diệc vô hình.
    Sắc thân giá cá thị,
    Không không tầm hưởng thanh.
    Y pháp bất y nhân, Y nghĩa bất y ngữ, Y Trí bất y Thức,
    Y liễu nghĩa Kinh, bất y vị liễu nghĩa Kinh.

  9. #9
    Avatar của hungcom
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    198
    Thanks
    136
    Thanked 208 Times in 79 Posts


    25. THIỀN SƯ Tịnh Không (1091 - 1170)

    Chùa Khai quốc, phủ Thiên đức. Vốn người Phúc xuyên(1), họ Ngô. Ban đầu xuất gia và thọ giới Cụ túc ở viện Sùng phúc tại Châu Minh.
    Năm 30 tuổi, Sư đi hành cước phương Nam(*), đến chùa Khai quốc. Trải 5, 6 năm, tu hạnh đầu đà, mỗi ngày chỉ dùng một hạt gạo, hạt mè, ngồi hoài không ngủ, mỗi lần nhập định, thường trải nhiều ngày mới dậy. Đàn tín bốn phương đến cúng, chất cao như núi. Hoặc có kẻ đến rình ăn trộm, Sư tất bảo lấy những vật Sư hiện có.
    Bấy giờ Nam Khương công chúa, ý muốn xuất trần, riêng đến xin Sư thụ giới. Sư bằng lòng thế độ. Triều đình hay được, xuống chiếu bắt Sư. Khi Sư tới khuyết, thần sắc thản nhiên, vua càng thêm kính, phong làm thạc đức danh tăng. Sư cố từ không được. Một hôm Sư thượng đường, có một vị Tăng cầm gậy đến hỏi: "Thế nào là Pháp thân?".
    Sư đáp: "Pháp thân vốn vô hình?"
    Lại hỏi: "Thế nào là Pháp nhãn?".
    Sư đáp: "Pháp nhãn vốn không mờ". Rồi tiếp: "Trước mắt không pháp, ý ở trước mắt. Pháp chẳng là chỗ của tai mắt".
    Vị tăng bật cười ha hả. Sư hỏi: "Cười điều chi?"
    Vị Tăng đáp: "Hoà thượng là bậc xuất thế số một, nhưng chưa có tôn chỉ, phải đến tham vấn Đạo Huệ mới được!"
    Sư hỏi: "Đến hỏi thầy kia thì được việc gì?"
    Vị Tăng bảo: "Trên không ngói lợp; dưới không cắm dùi".
    Sư bèn thay áo, thẳng đến Đạo Huệ ở núi Tiên Du(2).
    Huệ nói: "- đây không phải không có tôn chỉ, nhưng thầy quyết chắc bằng cách nào?."Sư ngẫm nghĩ.
    Huệ hét: "Ngay mặt quá đà rồi !"
    Sư lãnh hội yếu chỉ, nhân đó ở lại nâng khăn, xách guốc cho Đạo Huệ 3 năm. Sau Sư trở về chùa cũ, thâu nhận đồ chúng. Một hôm Sư hội họp đồ chúng nói kệ:

    "Trên không mảnh ngói lợp
    Dưới không chỗ cắm dùi. (3)
    Hoặc đổi áo thẳng đến
    Hoặc xách trượng ra đi.
    Động chuyển chuyển nhằm chỗ
    Tợ rồng nhảy đớp mồi".
    (**)

    Vị Tăng hỏi: "Từ trước "trực chỉ" là nói cái gì?"(4)
    Sư đáp: "Ngày ngày đi gặt lúa
    Giờ giờ kho lẫm không" (***)
    Tăng thưa: "Con chẳng hiểu"
    Sư dạy: "Trời trăng luôn sáng,
    Mây nổi khuất che". (****)

    Rồi sư đọc kệ:

    Người trí không ngộ đạo
    Ngộ đạo tức kẻ đần
    Nằm dài chân khách duỗi
    Sao biết ngụy cùng chân"
    (5)(*****)

    Lại hỏi: "Thế nào là Phật?"
    Sư đáp: "Nhật nguyệt sáng ngời muôn vạn cõi
    Ai hay mây móc phủ non sông". (V*)
    Sư đáp: "Mục đồng chỉ giỏi cưỡi lưng trâu
    Sĩ có anh hùng vượt được y" (V**)
    Lại hỏi: "Ý Tổ và ý Kinh giống hay khác?"
    Sư đáp: "Muôn dặm thuyền tàu, đều chầu cửa khuyết".
    Lại hỏi: "Hoà thượng có việc kỳ đặc, sao không nói cho học nhân biết?"
    Sư đáp: "Ông thổi lửa, tôi vo gạo, ông khất thực, tôi cầm bát, ai phụ ông đâu?" (6)(V***)Vị Tăng liền tỏ ngộ.
    Vào một ngày tháng nào đó của năm Chính Long Bảo Ứng thứ 8 (1170), khi sắp thị tịch, Sư từ giã chúng, dặn dò: "Các con hãy khéo giữ mình như khi ta còn sống, chớ có đắm trước mà sinh ra quyến luyến buồn rầu".(7)
    Nửa đêm hôm ấy, Sư ngồi kiết già mà tịch, thọ trên 80 tuổi.* (Cơ duyên thoại ngữ của truyện này cùng với chuyện của Hoà thượng Giáp Sơn trong Truyền đăng(8)rất hợp, song xét Liệt tổ yếu ngữ(9) của Huệ Nhật thì đều đã chép đủ, không dám cải chính)

    _________________

    Chú thích :

    (1)
    Phúc Xuyên, Đại Việt lịch triều đăng khoa lục 2 có ghi một làng tên Phúc Xuyên, quê hương của Phan Nhuệ, tiến sĩ khoa 1748, nhưng lại ghi làng Phúc xuyên ở hạt Tiên phong. Song Tiên phong là tên một huyện ở Sơn tây. Điều chắc chắn là nó phải nằm ở phía bắc phủ Thiên đức, bởi vì trước khi đến ở tại chùa Khai quốc phủ Thiên đức, Tịnh Không đã phải "hành cước Nam phương".
    Bây giờ, truyện của Không cũng nói rằng Không "ban đầu xuất gia ở viện Sùng phúc châu Minh, nếu viện Sùng phúc ở đây là chùa Sùng phúc dựng tại làng Siêu loại vào năm 1115, mà Đại Việt sử lược 2 tờ 21a2-3 ghi lại, thì làng Siêu loại như vậy thuộc vào Phúc xuyên. Và Phúc xuyên tên một châu đời Lý mà địa phận có thể gồm huyện Siêu loại, tức huyện Thuận thành tỉnh Hà bắc ngày nay, với một số huyện khác chưa thể xác định được. Có lẽ Sùng phúc nguyên trước là một viện nhỏ. Đến năm 1115 nó được Linh Nhân thái hậu xây dựng lại và đổi thành chùa. Chắc vào năm này Không đã rời Sùng Phúc để hành cước xuống chùa Khai quốc ở phía Nam, bởi vì ta biết Không mất vào năm 1170, lúc ông hơn 80 tuổi, mà ông bắt đầu hành cước lúc ông 30 tuổi.

    (2)
    Thiền sư Giáp Sơn Thiện Hội: "Một hôm Đạo Ngô cầm gậy đến gặp Sư thượng đường, Tăng hỏi: "Như hà thị Pháp thân?", Sư viết:
    "Pháp thân vô tướng". Viết: "Như hà thị Pháp nhãn?". Sư viết: "Pháp nhãn vô hà". Sư hựu viết: "Mục tiền vô pháp, ý tại mục tiền. Bất thị mục tiền pháp, phi nhĩ mục sở đáo". Đạo Ngô nãi tiếu. Sư nãi sinh nghi, vấn Ngô: "Hà tiếu?". Ngô viết: "Hoà thượng nhất đẳng xuất thế, vị hữu sư, khả vãng Chế trung, Hoa đình huyện, tham Thuyền Tử Hoà thượng khứ". Sư viết: "Phỏng đắc hoạch phủ?". Đạo Ngô viết: "Bỉ Sư, thượng vô phiến ngõa già đầu, hạ vô trác chùy chi địa". Sư toại dịch phục trực nghệ Hoa đình....

    (3)
    Giáp Sơn Thiện Hội. Đạo Ngô viết: "Bỉ sư thượng vô phiến ngõa già đầu, hạ vô trác chùy chi địa".

    (4)
    Tùng thượng trực chỉ, vi thập ma thuyết? Giáp Sơn Thiện Hội tăng vấn: "Tùng thượng lập Tổ ý, Giáo ý, Hoà thượng thử gian vi thập ma ngôn vô?" Sư viết: "Tam niên bất thực phạn, mục tiền vô cơ nhân".

    (5)
    Nguyên văn:

    Trí nhân vô ngộ đạo
    Ngộ đạo tức ngu nhân
    Thân cước cao ngọa khách,
    Hề thức ngụy kiêm chân.


    So sánh Giáp Sơn Thiện Hội : Sư có bài tụng:

    Minh minh vô ngộ pháp
    Ngộ pháp khước mê nhân
    Trường thư lưỡng cước thụy
    Vô ngụy diệc vô chân


    (6)
    Thiền sư Giáp Sơn Thiện Hội: Một tiểu sư hầu hạ lâu năm, sau đó bỏ đi tham phương nhưng không có chỗ dụng tâm. Tiểu sư nghe đồn mọi người đang đổ xô về Thiện Hội học thiền, bèn trở về nói với Thiện Hội: "Hoà thượng có sự kỳ đặc như vậy, sao không sớm nói cho con biết?". Sư đáp: "Ông nấu cơm, tôi thổi lửa, ông khất thực, tôi cầm bát, thì chỗ nào là chỗ cô phụ ông?". Vị tiểu do đó mà ngộ nhập.

    (7)
    Giáp Sơn Thiện Hội: "Ngày 7 tháng 11 năm Tân sửu Đường Trung Hoà thứ nhất (881), Sư mời chủ sự tới nói: "Ta cùng với chúng tăng nói đạo nhiều năm, ý chỉ sâu sắc của Phật pháp, mỗi một người phải tự biết lấy, ta nay thân huyễn hết, thời tức phải đi. Các ngươi nên khéo giữ gìn, như khi ta còn sống, chớ có ùa theo người đời mà sinh ra buồn bã. Nói xong, đên nửa đêm Sư lặng lẽ mất".

    (8)
    Tức truyện của Hoà thượng (mà Nguyên văn ở đây viết là hòa cái) Thiện Hội ở Giáp sơn, Phong châu, Hội họ Liêu, người Kiến đình, Quảng châu, đệ tử của Đức Thành. Hội sinh năm 805 và mất năm 881 thọ77 tuổi. Với những dẫn chứng trên, rõ ràng cơ duyên thoại ngữ, tức những đối thoại giữa hai thầy trò Thiền sư nhằm tạo một cơ duyên cho sự giác ngộ, cho đến câu nói cuối cùng trước khi mất của Tịnh Không đều phần lớn lấy ra từ truyện của Thiện Hội.

    (9)
    Liệt tổ yếu ngữ của Huệ Nhật, Thiền uyển tập anh dẫn hai lần, một ở đây và một ở truyện Nguyện Học. Cứ vào hai dẫn chứng này thì có thể nói đa số, nếu không tất cả những cơ duyên thoại ngữ của Thiền uyển tập anh đều lấy ra từ Liệt tổ yếu ngữ. Bởi vì ngay cả trong cả hai trường hợp dẫn đây, mặc dù cơ duyên thoại ngữ của Tịnh Không cũng như của Nguyện Học hầu như hoàn toàn đồng nhất với cơ duyên thoại ngữ của Giáp Sơn Thiện Hội và Huệ Tư trong Truyền đăng lục, tác giả vẫn không thể loại bỏ, với lý do là: "chúng đã chép đủ trong Liệt tổ yếu ngữ của Huệ Nhật". Huệ Nhật này là ai và sống vào khoảng nào, ngày nay ta hiện chưa biết. Về nội dung của Liệt tổ yếu ngữ , ta đã biết một phần nào.

    ------------------

    Chú thích của hungcom :

    (*)
    "Hành cước Nam phương"
    Bản khác ghi :
    Tịnh Không thiền sư 凈空禪師 (1091-1170) họ Ngô 吳, người huyện Phúc Châu, Trung Quốc, thuộc thế hệ thứ 10 dòng thiền Vô Ngôn Thông. Năm 30 tuổi sang nước ta, tu ở chùa Khai Quốc, phủ Thiên Đức.

    (**)

    上無片瓦遮,
    下無卓錐地。
    或易服直詣,
    或策杖而至。
    動轉觸處間,
    似龍躍吞餌。


    Thượng vô phiến ngoã già,
    Hạ vô trác chuỳ địa.
    Hoặc dịch phục trực nghệ,
    Hoặc sách trượng nhi chí.
    Động chuyển xúc xứ gian,
    Tự long dược thôn nhị.


    (***)

    日日去獲禾,
    時時空倉廩。


    Nhật nhật khứ hoạch hoà,
    Thời thời không thương lẫm.


    (****)

    日月長明,
    浮雲蓋蔭。


    Nhật nguyệt trường minh,
    Phù vân cái ấm.


    (*****)

    智人無悟道,
    悟道即愚人。
    伸腳高臥客,
    奚識偽兼真。


    Trí nhân vô ngộ đạo,
    Ngộ đạo tức ngu nhân.
    Thân cước cao ngoạ khách,
    Hề thức nguỵ kiêm chân.


    (V*)

    日月麗天含憶剎,
    誰知雲霧落山河。


    Nhật nguyệt lệ thiên hàm ức sát,
    Thuỳ tri vân vụ lạc sơn hà.


    (V**)

    牧童祗慣臥牛背,
    土有英雄跨得伊。


    Mục đồng chi quán ngoạ ngưu bối,
    Thổ hữu anh hùng khoá đắc y.


    (V***)

    汝吹火,我著米;汝乞食,我取缽, 誰辜負汝

    Nhữ xuy hoả, ngã trước mễ; nhữ khất thực, ngã thủ bát. Thuỳ cô phụ nhữ?



    Y pháp bất y nhân, Y nghĩa bất y ngữ, Y Trí bất y Thức,
    Y liễu nghĩa Kinh, bất y vị liễu nghĩa Kinh.

  10. #10
    Avatar của hungcom
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    198
    Thanks
    136
    Thanked 208 Times in 79 Posts


    27. THIỀN SƯ Tịnh Lực (1112 - 1175)


    Am Việt Vương trì, Tỉnh Cương, Vũ ninh, người Cát lăng, Vũ bình, họ Ngô, tên Trạm. Thuở nhỏ Sư thông minh, biện tài, sở trướng nghề văn, thể chữ càng giỏi. Trong khi du học, được gặp Đạo Huệ, núi Tiên du, bèn quyến luyến nhau, như cây kim hạt cải, nên gửi lòng đất Phật, mặc áo cỏ, ăn cây lá, phước huệ cùng tu, trải mấy tinh sương, lòng càng bền chặt. Đạo Huệ thường bảo: "Tâm ấn Chư Phật, người đã có sẵn, không cần theo ai mà được."
    Sư thưa: "Đã được thầy chỉ dạy, nhưng nay nên trụ nơi nào?"
    Đạo Huệ bảo: "Chẳng cần đi đâu xa, ở tại Vũ ninh là tốt". Sư thẳng lên núi, cất am cỏ, ở tu. Trong 12 thời, Sư lễ Phật sám hối, thâm nhập được pháp môn niệm Phật tam muội (1)nên âm thanh trong trẻo như tiếng Phạm thiên. Thường giảng kinh Viên giác, nghĩa lý nếu có chỗ nào chưa ổn, Sư đích thân cải chính. Người bấy giờ bảo trong miệng Sư (có) hùng hoàng (2).
    Vào một tháng nào đó của năm Thiên Cảm thứ 2 (1175), Sư cáo bệnh gọi môn đồ đến dạy:
    "Các ngươi hết thảy đều là kẻ học đạo. Lòng siêng cúng dường Phật, không ngoài việc chỉ nhằm khiến dứt trừ các ác nghiệp. Tâm và miệng niệm tụng phải tin, hiểu, nghe, biết. ở chỗ vắng vẻ yên lặng, gần gũi thiện tri thức, mở lời hoà vui, nói năng đúng lúc, trong không sợ khiếp, hiểu rõ nghĩa lý, xa lìa ngu mê, an trụ bất động, xem hết mọi pháp vô thường vô ngã, vô tác vô vi, ở chỗ lìa phân biệt. Đó là người học đạo. Ta nay hoá duyên đã xong". Rồi Sư nói bài kệ sau:

    "Trước tuy nói cát sau nói hung
    Từ đấy theo xưa huý chẳng tùng
    Vì gặp thấy rồng làm con Phật (3)
    Chợt trông chuột hiện lặng vô cùng".
    (4)(*)

    Nói xong Sư ngồi ngay ngắn thị tịch, thọ 64 tuổi.


    __________________

    Chú thích :

    (1)
    Niệm Phật tam muội, Phạn: Buddhànusmrti-samàdhi. phương pháp Thiền định bằng cách nhớ nghĩ đến Phật. Sự nhớ nghĩ này hoặc bằng một lòng quán tưởng những nét đẹp của xác thân Phật hay thật tướng của pháp thân Phật thì gọi là quán tưởng niệm Phật, hoặc bằng một lòng đọc tụng tên Phật thì gọi là danh xưng niệm Phật. Đây là nhân hành của việc niệm Phật. Đến khi vào thiền định mà thấy được chính Phật hiện ra trước mắt hay thấy được pháp thân Phật, thì đấy là kết quả của việc niệm Phật tam muội. Xem Quán vô lượng thọ kinh ĐTK 365 và Niệm Phật tam muội kinh

    (2)
    Hùng hoàng theo Thần nông bản thảo kinh là một loại đá có thể làm cho người ta "nhẹ người thần tiên" và chống lại được bệnh do tà ma quỉ quái tạo ra. Ngô Phổ giải thích nó là thứ hùng của các loại đan nên gọi là hùng hoàng. Xem Thần nông bản thảo kinh và Bản thảo cương mục 9 tờ21b9-28b1. Đặc biệt đây là chất người Trung quốc thường dùng để bôi xoá những chữ viết sai. Cho nên về sau nói người nào có hùng hoàng trong miệng là muốn nói người đó giỏi biện luận, có thể sửa sai người khác.

    (3)
    Nguyên văn: Vị ngộ hiện long vi Phật tử. Hiện long là một từ lấy từ quẻ càn của Chu dịch: "Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân". (Rồng ra ở ruộng, lợi thấy đại nhân). Khổng tử giải thích: Đức rồng ở chính trung thì lời nói thường mà tin, việc làm thường mà cẩn thận, tránh điều tà mà giữ lòng thành, giỏi việc đời mà không khoe khoang, đức hạnh rộng để giáo hoá. Dịch nói: "Rồng ra ở ruộng, nên thấy đại nhân, đó là đức của vua vậy."

    (4)
    Nguyên văn: Hốt tào thử xuất tịch vô cùng. Chuột trong câu này là chỉ bọn bầy tôi phá hoại quốc dân, một từ lấy ra ở thiên Chính lý của Thuyết uyển: "Tề Hoàn Công hỏi Quản Trọng: "Nước có nạn gì?" Quản Trọng đáp: "Nạn là nạn chuột xã". Hoàn Công hỏi:
    "Sao gọi thế ?" Quản Trọng đáp: "cái xã là do bó cây mà trét đất lên. Chuột nhân đó đến ở gá vào. Đốt chúng đi thì sợ cháy cây. Tạt chúng đi thì sợ lở đất. Chúng do đó không thể giết được là vì ngôi xã. Nước cũng có loại chuột xã, tức là kẻ hầu hạ hai bên vua vậy. Bên trong thì chúng bưng bít việc thiện ác đối với vua. Bên ngoài thì chúng mua bán quyền hành đối với dân. không diệt chúng thì nước loạn, mà giết chúng thì bị vua xét hỏi. Nên chúng cứ chiếm lấy vua mà sống. Đấy tức là bọn chuột xã của nước vậy".

    -----------------------

    Chú thích của hungcom :

    (*)


    先雖言吉後言凶,
    自是太祖諱不從。
    為遇見龍為佛子,
    忽遭鼠出寂無窮。


    Tiên tuy ngôn kiết, hậu ngôn hung,
    Tự thị Thái Tổ huý bất tùng.
    Vi ngộ kiến long vi Phật tử,
    Hốt tao thử xuất tịch vô cùng.

    Y pháp bất y nhân, Y nghĩa bất y ngữ, Y Trí bất y Thức,
    Y liễu nghĩa Kinh, bất y vị liễu nghĩa Kinh.

  11. The Following User Says Thank You to hungcom For This Useful Post:

    hoatihon (06-12-2015)

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •