– Thế nào là không có chỗ thấy?
– Nếu thấy kẻ nam người nữ và tất cả màu sắc hình tượng, mà ở trong đó không khởi tâm yêu ghét thì cùng không thấy chẳng khác, ấy là không có chỗ thấy.
(若見男子女人及一 切色像 。於 中不起愛憎與不見等。即是無所見也
Nhược kiến nam tử nữ nhân cập nhất thiết sắc tượng, ư trung bất khởi ái tăng dữ bất kiến đẳng, tức thị vô sở kiến dã.)
– Khi đối tất cả màu sắc hình tượng thì gọi là thấy, khi chẳng đối màu sắc hình tượng cũng gọi là thấy chăng?
– Gọi thấy!
– Khi đối vật là có thấy, khi không đối vật làm sao có thấy?
– Nay nói thấy, không luận đối vật cùng chẳng đối vật. Vì sao? Vì tánh thấy thường hằng, khi có vật thì thấy vật, khi không vật thì thấy không. Thế nên biết, vật tự có đi lại, tánh thấy không có đi lại, các căn (tai, mũi, lưỡi, thân…) cũng như vậy.
(今言見者。不論對 物與不對物。何 以 故。為見性常故。有物之 時即見。無 物之 時亦見也。故知物自有去來。見性無 去也。諸彼亦耳。
Kim ngôn kiến giả, bất luận đối vật dữ bất đối vật. Hà dĩ cố ? vi kiến tính thường cố, hữu vật chi thời tức kiến, vô vật chi thời diệc kiến dã, cố tri vật tự hữu khứ lai, kiến tính vô lai khứ dã, chư bỉ diệc nhĩ.)
– Ngay khi thấy vật, trong cái thấy có vật chăng?
– Trong cái thấy chẳng lập vật.
– Ngay khi thấy không vật, trong cái thấy có không vật chăng?
– Trong cái thấy chẳng lập không vật.

Trả lời với trích dẫn