Trong đám mía !


Khoảng lên 7, 8 tuổi, một hôm tôi xin phép mẹ dẫn đứa em trai nhỏ hơn tôi hai tuổi đi theo một nhóm bạn vào con suối trong bìa rừng để moi đất sét. Chúng bạn làm thủ công với đất sét đủ màu, cam, lục, xanh da trời, lam, đỏ, vàng, và đen mun. Nhìn trái đu đủ hoặc trái cam chúng bạn làm để được chấm điểm thủ công, tôi chết mê. Kịp khi lũ bạn rủ đi lấy đất sét có màu thiên nhiên ấy, tôi đã năn nỉ mẹ cho tôi đi theo. Con đường từ nhà tôi đến con suối phải đi hết đoạn cái quan trải nhựa hư hỏng loang lỗ, băng xuống dốc đồi thông theo lối mòn dẫn đến một con suối, nơi mà tôi thưòng theo mẹ đi tắm, còn mẹ thì giặt quần áo trên chiếc cầu sắt bắt ngang qua giòng chảy, từ con suối băng theo lối zigzag xuyên qua nhiều dãy ruộng mía do người dân tộc trồng thì tới sát vách núi nơi có đất sét đủ màu. Ở đây vừa sạch, vừa nên thơ như cảnh đào nguyên. Hai anh em tôi có thể được xem là kém ''lịch duyệt'' nhất trong đám trẻ thời bấy giờ. Cứ mãi mê tắm mát dưới giòng suối toàn bằng đất sét đầy màu sắc hiếm khi được thấy, thì chợt nghe sấm sét nổ đùng nhiều tiếng như bom ngay trên đỉnh đầu, mây giăng đen kịt, trời bỗng từ xế chiều chuyển ngay sang chạng vạng tối, nhìn lại chỉ còn có hai anh em, bọn trẻ đang cuốn quần áo chạy sắp mất hút khỏi rừng mía. Em tôi sợ quá khóc thét như chưa bao giờ nó hãi hùng đến thế. Tôi cũng sắp sửa khóc òa như em, nhưng sứ mệnh làm anh bỗng bừng dậy, tôi vội xỏ nhanh chiếc quần sọt, bặm môi kéo áo phủ lên người em, một tay dắt em, tay kia ôm áo chạy theo hướng ra khỏi rừng mía. Lúc đó, khốn thay là mưa xối xuống như tạt, và gió thổi mãnh liệt từng cơn kèm theo sấm chớp liên hồi. Giữa rừng mía, bên kia con suối là đồi cao sừng sững và nghe đâu có cọp thỉnh thoảng về gầm hú, hai anh em tôi như hai con kiến nhỏ cuống quít chạy tứ phía mà không cách nào tìm được lối ra khỏi ruộng mía cao hơn người lớn đứng giơ tay. Em tôi há mồm khóc như ai đâm dao vào nó. Tôi sợ như chưa từng sợ từ lúc sinh ra đời. Và trong sự sợ hãi tột cùng ấy, tôi tự nhiên niệm Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát không ngưng. Đó là do mẹ tôi thường làm như vậy mỗi khi bà có điều gì bất an, bà dạy tôi cũng phải biết niệm Phật Quan Âm, nhưng đây là lần đầu tiên tôi niệm tên bà ấy như một cái máy mà không đợi mẹ nhắc. Niệm thì niệm chứ mắt vẫn đăm đăm nhìn về trước và tay vẫn nắm tay đứa em, vẫn ôm chặt chiếc áo sơ mi sờn rách chạy như điên như cuồng không định hướng. Trong cơn vô vọng và kinh hoàng ấy, cứ nghĩ là sẽ chết giữa rừng mía, trời lại tối sẩm thêm như càng muốn hăm dọa hơn với bóng ma bóng cọp, thì một cái chớp sáng rực bầu trời tóe lên như pháo bông, kèm theo một tiếng sấm ở đầu kia ruộng mía, tôi điếng hồn nhìn về phía tia chớp, một cánh tay vươn lên khỏi đọt mía vẫy vẫy gọi tên tôi, Ê ! T. ơi, ra đây này. Không cần biết ất giáp, và như con cheo nhỏ, tôi dắt em lao nhanh về phía ấy. Quả nhiên, chỉ chừng vài phút sau, tôi đến ngay chỗ mà tôi thấy bàn tay. Đây chính là bìa rừng mía, tôi gặp ngay con đường mòn dẫn về cây cầu sắt bắt ngang con suối, ở đây hoàn toàn quang đãng không còn gì che chắn tầm mắt, tôi nhìn về phía cuối đường mòn dẫn ngược lên con lộ cái quan ở phía đằng xa, chẳng có lấy bóng một người, các bạn tôi đã chạy không còn một đứa. Trong thâm tâm, tôi tuyệt nhiên chẳng nghĩ gì đến Phật Trời, chỉ cho rằng thằng bạn nào đó đã kêu tôi, sau khi kêu, nó bỏ chạy mất, thế thôi.

Bẵng đi một thời gian, cho đến khi đã vào đại học, nhân dịp đi chơi với một đám bạn, ngang qua một ruộng mía ở vùng phụ cận Nha Trang, tôi bỗng nhớ tới cái rừng mía của người dân tộc canh tác lúc còn bé, và tôi giật mình suy nghĩ : bây giờ tôi đã cao được gần 1,7 mét, tôi vẫn giơ tay không qua khỏi đọt mía một cách dễ dàng, thế thì thằng bạn nào có đủ chiều cao giơ cánh tay lên đến ngang nách qua khỏi đọt mía mà gọi tên tôi lúc còn bé?

Tôi kể câu chuyện này hôm nay, không cho rằng đó là phép lạ của Đức Quán Thế Âm, nhưng vẫn hoang mang không thể giải thích thế nào.


Trần Trọng Sỹ