Giáo Pháp của Mantra bí mật là con đường nhanh nhất để giải thoát trong bardo vì ta quá quen thuộc với các bổn tôn và nhận ra các ngài khi các ngài xuất hiện. Tùy theo các khuynh hướng quen thuộc của ta, các ngài sẽ xuất hiện tràn đầy năng lực. Vajra Heruka là một hiển lộ phẫn nộ của Đức Vajrasattva nhưng cả hai chỉ là một. Những người thực hành phái tân dịch sẽ nhận thấy Vajrasattva trong hình tướng hòa bình hay phẫn nộ dù họ là những hành giả của Kalachakra, Chakrasam-vara, Guhyasamaya hay Hevajra. Suốt trong bốn tantra lớn, hiển lộ hòa bình của Vajrasattva chiếm ưu thế. Vì thế, các hành giả của tất cả các tantra này sẽ rất quen thuộc với hiển lộ hòa bình. Không có gì khác biệt giữa Đức Vajrasattva của phái cựu dịch và của phái tân dịch. Họ sẽ nhìn Vajrasattva phù hợp với khả năng của riêng họ. Những người đã thực hành những bổn tôn này sẽ nhìn thấy các ngài khi các ngài xuất hiện trong bardo và sẽ nhận ra các ngài và được giải thoát. Bất luận Đức Vajrasattva được thực hành như thế nào trong bất cứ dòng truyền thừa đặc biệt nào, bản chất của ngài thì vẫn thế. Vajrasattva là hiện thể hiển lộ của trí huệ nguyên thủy như-gương (đại viên cảnh trí). Ngài là Akshobhya và xuất hiện như Akshobhya hay Vajrasattva như một hiển lộ của trí huệ như-gương. Nếu ta đã từng thực hành Yamantaka, sự hiển lộ của sắc tướng giác ngộ – là Đức Manjushri (Văn Thù) – thì ta sẽ gặp được Đức Phật Vairo-cana trong bardo và được giải thoát. Điều này tương ứng với sự tịnh hóa mê lầm (si). Trong thực tế, Đức Manjushri thuộc về tầng cấp thân giác ngộ, trong khi Đức Avaloki-tesvara thuộc về tầng cấp ngữ giác ngộ là sự tịnh hóa tham muốn. Đức Vajrapani thuộc tầng cấp tâm giác ngộ là sự tịnh hóa sân hận. Bất kỳ bổn tôn nào trong các bổn tôn thuộc về tầng cấp hoạt động giác ngộ chẳng hạn như Vajrakilaya tương ứng với sự tịnh hóa ganh tị như tất cả các bổn tôn Tara đã làm. Các ngài là hiện thân của sự tịnh hóa chất độc ganh tị. Đức Phật Ratnasambhava là hiện thân của sự tịnh hóa kiêu ngạo.

Về các yếu tố (đại), tham tương ứng với lửa; sân tương ứng với nước; si tương ứng với đất; kiêu ngạo tương ứng với các hình thành của đất chẳng hạn như các núi non; ganh tị tương ứng với gió. Khi thảo luận về mối tương quan giữa các yếu tố (đại) và các cảm xúc, điều này không có nghĩa là bằng cách thành tựu bổn tôn đó các bạn sắp trở nên được nối kết với một độc hay yếu tố (đại) đặc biệt, mà nó có nghĩa là bổn tôn là sự biểu lộ được tịnh hóa của khuynh hướng đó, nó tồn tại trong các bạn rất lâu khi các bạn ở trong vòng sinh tử. Sự giải thích này về mối tương quan giữa các đại, vô minh và những phẩm tính của giác tánh trí huệ, những diễn tả thì chung nhất cho cả phái cựu dịch lẫn tân dịch.

Trong phái cựu dịch, giai đoạn thành tựu của anu yoga bao gồm sự thực hành về sự hợp nhất đại lạc và tánh Không bằng cách khám phá bốn hỉ lạc, nhưng sự khám phá này vẫn còn là một kinh nghiệm về tịnh quang được minh họa. Nó là sự hiển lộ của kinh nghiệm trí huệ nguyên thủy như bốn hỉ lạc và vẫn còn là sự minh họa. Trong khi các bạn ở trên con đường thì kinh nghiệm tượng trưng cho kinh nghiệm tuyệt đối chỉ xảy ra vào lúc kết quả. Đây là sự hiển lộ của trí huệ nguyên thủy tuyệt đối được liên kết với kinh nghiệm tối hậu về tịnh quang hay tịnh quang tuyệt đối như đối nghịch với tịnh quang minh họa, nó giống như một đứa trẻ với một mô hình (bản sao) về một cái tháp (stupa) và sau đó là cái tháp thực sự. Sự minh họa thì giống như mô hình trong khi sự vật thực sự thì tuyệt đối.

Nếu các bạn có thể nghỉ ngơi trong tỉnh giác nội tại và muốn chuyển hóa nó thành kinh nghiệm về ánh sáng trong trạng thái mộng, các bạn hãy giữ tư thế sư tử nằm như đã giảng trước đây. Rồi các bạn cố rơi vào giấc ngủ trong một trạng thái tỉnh giác nơi mà ánh sáng và tánh Không được hợp nhất, cho phép tỉnh giác nội tại trong trạng thái của tánh Không chói sáng đó được tập trung trong trái tim. Các bạn sẽ cố rơi vào giấc ngủ một cách thình lình mà không mất sự tỉnh giác về sự trong sáng và tánh Không. Trong bản văn có dạy rằng những người sẽ có thể rơi vào ánh sáng thay vì ngủ và sẽ không có các hiện tượng mộng bởi vì các giấc mộng chỉ là sự xuất hiện của các lề thói quen thuộc. Thay vào đó sự tương tục của định quân bình của họ trong giác tánh nội tại sẽ được kinh nghiệm.

Có những giai đoạn tan rã xảy ra khi các bạn rơi vào giấc ngủ và đây cũng là giai đoạn tan rã xảy ra tương tự vào lúc chết. Nếu các bạn có thể nhận ra tịnh quang này thì nó cũng là kinh nghiệm mà các bạn có vào lúc chết, tuy nhiên sẽ không có các giai đoạn tan rã. Nó sẽ giống như một đứa trẻ nhận ra mẹ nó và nhảy vào lòng bà. Ánh sáng con, là cái được minh họa, là sự tu tập mà ta đã trải qua trong tiến trình của cuộc đời ta. Khi ánh sáng căn bản ló rạng vào lúc chết thì ánh sáng con sẽ hợp nhất với ánh sáng căn bản và sự giải thoát sẽ xảy ra. Để đạt được sự giải thoát vào lúc chết, các bạn nương nhờ vào các thực hành mà các bạn đã thực hiện trong Bardo Đời Này, gặp gỡ giác tánh nội tại, và trong Bardo Trạng thái Mộng.