56. 37 phẩm trợ đạo : 4 pháp niệm xứ ; 4 pháp chánh cần ; 4 pháp như ý túc ; 5 căn ; 5 lục ; 7 pháp giác chi ; 8 pháp đạo phần . 37 pháp này giúp cho người tu hành thành tựu được đạo quả, nên gọi là trợ đạo, có giải rõ ở sau.

57. Hồi hướng tâm: Hồi: Hồi chuyển; Hướng: thu hướng. Hồi hướng là khởi lòng đại bi cứu độ chúng sanh, xoay chuyển công đức, căn lành hướng về ba chỗ: 1) Chỗ sở chúng chơn như thật tế; 2) Chỗ sở cấu vô thượng Bồ đề; 3) Chỗ sở độ tất cả chúng sanh.

58. Ba đường ác : 1) Địa ngục, 2) Ngạ quỉ, 3) Súc sanh.

59. Tám nạn :
_ 1) Địa ngục ;
_ 2) Ngạ quỉ ;
_ 3) Súc sanh ;
_ 4) Trường thọ thiên ;
_ 5) Bắc cu lô châu ;
_ 6) Đui, điếc, ngọng, liệu ;
_ 7) Thế trí biện thông,
_ 8) Sanh trước Phật hay sau Phật.
Sở dĩ gọi là tám nạn là vì ở tám chỗ này dù cảm thọ quả khổ vui có khác, nhưng đều không được thấy Phật, không được nghe chánh pháp.

60. Phạm hạnh : Giới hạnh thanh tịnh, hạnh đoạn dâm dục.

61. Cung trời Tự tại : Cung điện của trời Tự Tại Thiên Vương ở trên chót từng tứ thiền cõi sắc giới.

62. Thần túc : Pháp thần thông biến hóa tự tại vô ngại của Phật tu chứng.

63. Hữu vi : các pháp có tạo tác, sanh diệt, tức là chỉ tất cả hiện tượng biến thiên trong vũ trụ .

64. Trần cấu : Nghĩa là bụi nhớp, tức là những sự mê lầm làm cho tâm phải mờ tối. Xa lìa trần cấu tức dứt hết 88 phẩm kiến hoặc trong ba cõi.

65. Pháp nhãn thanh tịnb : Thấy rõ được lý chơn thật của các pháp ; tiểu thừa chứng đưọc sơ quả, do đã xa lìa trần cấu kiến hoặc, thấy rõ thật lý pháp tứ đế. Đại thừa chứng được Vô sanh pháp nhẫn vào bậc Sơ địa.

66. Kiết lậu : Các phiền não kết dệt trong tự tâm, nên phiền năo cũng gọi là “kiết lậư”. Kiết lậu đã hết, vì dứt trừ lòng ái nhiễm mê đắm không còn chấp thọ các pháp nên tâm ý được giải thoát, chứng đến bực vô học (A la hán).