DIỄN ĐÀN PHẬT PHÁP THỰC HÀNH - Powered by vBulletin




Cùng nhau tu học Phật pháp - Hành trình Chân lý !            Hướng chúng sinh đi, hướng chúng sinh đi, để làm Phật sự không đối đãi.


Tánh Chúng sinh cùng Phật Quốc chỉ một,
Tướng Bồ Đề hóa Liên hoa muôn vạn.

Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 58

Chủ đề: Kinh Pháp Bảo Đàn

  1. #1
    LÁ Avatar của minh thức
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    319
    Thanks
    278
    Thanked 188 Times in 77 Posts


    Tăng Pháp Đạt, người Hồng Châu, 7 tuổi xuất gia, thường tụng Kinh Pháp Hoa, đến lễ Tổ Sư mà đầu chẳng chấm đất. Sư quở rằng. “Đảnh lễ mà chẳng chấm đất bằng như chẳng lễ, trong tâm người tất có chất chứa một điều gì, ngày thường tu hạnh gì?”.

    Đáp: “Niệm Kinh Pháp Hoa đã hết ba ngàn bộ.”

    Sư nói: “Dẫu ngươi tụng đến mười ngàn bộ, nếu ngộ được ý Kinh mà chẳng tự cho là thù thắng, mới đồng một hạnh với ta. Nay ngươi tự phụ cho đấy là sự nghiệp mà chẳng biết lỗi, hãy nghe kệ đây:

    Lễ bổn chiết mạn tràng,

    Đầu hề bất chí địa?

    Hữu ngã tội tức sanh,

    Vong công phước vô tỷ.


    Dịch nghĩa:

    Lễ vốn trừ ngã mạn,

    Đầu sao chẳng chấm đất?

    Có ngã tội liền sanh,

    Quên công phước vô tận.

    Sư lại hỏi: “Ngươi tên gì?”

    Đáp: “Tên là Pháp Đạt”.

    Sư nói: “Ngươi tên Pháp Đạt, đâu từng đạt pháp”. Lại nói kệ rằng:

    Nhữ kim danh Pháp Đạt,

    Cầu tụng vị hưu hiết.

    Không tụng đản tuần thanh,

    Minh tâm hiệu Bồ Tát.

    Nhữ kim hữu duyên cố,

    Ngô kim vi nhữ thuyết.

    Đản tính Phật vô ngôn,

    Liên hoa tùng khẩu phát.


    Dịch nghĩa:

    Ngươi tên gọi Pháp Đạt,

    Siêng tụng chưa từng dứt.

    Tụng suông chỉ theo tiếng,

    Minh tâm gọi Bồ Tát.

    Ngươi nay có nhân duyên,

    Ta vì ngươi mà thuyết.

    Hễ tin Phật vô ngôn,([1])

    Lời Phật từ miệng phát.([2])
    *



    SANH TỬ SỰ ĐẠI, VÔ THƯỜNG TẤN TỐC

  2. The Following User Says Thank You to minh thức For This Useful Post:

    Mục đồng (01-13-2016)

  3. #2
    LÁ Avatar của minh thức
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    319
    Thanks
    278
    Thanked 188 Times in 77 Posts


    Tâm mê Pháp Hoa chuyển,

    Tâm ngộ chuyển Pháp Hoa.

    Tụng kinh cửu bất minh,

    Dữ nghĩa tác thù da.

    Vô niệm niệm tức chánh,

    Hữu niệm niệm thành tà.

    Hữu vô câu bất kế,

    Trường ngự bạch ngưu xa.


    Dịch nghĩa:

    Tâm mê Pháp Hoa chuyển,

    Tâm ngộ chuyển Pháp Hoa.

    Tụng lâu chẳng hiểu thấu,

    Với nghĩa vẫn lạ xa.

    Vô niệm (không chấp thật) niệm tức chánh,

    Hữu niệm (có chấp thật) niệm thành tà.

    Hữu vô đều chẳng chấp,

    Cưỡi mãi "xe trâu trắng".

    Đạt nghe xong thoạt chảy nước mắt, ngay nơi đó khai ngộ, nói với Sư: “Pháp Đạt xưa nay thật chưa từng chuyển Pháp Hoa, lại bị Pháp Hoa chuyển”. Lại hỏi: “Kinh nói: “Chư Đại Thanh Văn cho đến Bồ Tát, tất cả tận tâm suy lường đều chẳng thể đo lường được trí Phật”. Nay khiến phàm phu chỉ ngộ được tự tâm thì gọi là tri kiến Phật, tự mình đã chẳng phải là bậc thượng căn, nên chẳng khỏi nghi ngờ. Kinh lại nói: “Ba loại xe: Xe nai, xe dê và xe trâu” có gì khác biệt? Xin Hòa Thượng chỉ dạy thêm”.

    Sư nói: “Ý Kinh rõ ràng minh bạch, ngươi tự mê trái. Người Tam thừa chẳng thể suy lường được trí Phật, lỗi tại suy lường vậy. Dẫu cho ngươi tận sức suy lường, chỉ càng thêm xa xôi mà thôi. Phật thuyết pháp vốn vì phàm phu mà thuyết, chẳng vì Phật thuyết; lý này nếu chẳng chịu tin thì cũng như năm ngàn người từ trên hội Pháp Hoa lui ra, mà chẳng biết đã ngồi sẵn trên xe trâu (Phật tánh vốn sẵn có), mà lại tìm kiếm ba xe (Tam thừa) bên ngoài. Huống trong Kinh rõ ràng chỉ ra cho người: Chỉ duy nhất một Phật thừa, chẳng còn thừa nào khác, nói có hai ba thừa, cho đến vô số phương tiện, mọi thứ nhân duyên, lời nói thí dụ, pháp ấy đều vì nhất Phật thừa mà tạm lập. Ngươi sao chẳng tỉnh ngộ, nói ba xe là giả thiết, vì đời xưa mà nói, nhất thừa là thật, vì đời nay mà nói; chỉ bảo ngươi bỏ giả trở về thật, trở về thật rồi thật cũng chẳng chấp. Phải biết tất cả châu báu tài vật đều thuộc về ngươi, do ngươi thọ dụng, chẳng phải là của cha, cũng chẳng phải là của con, cũng chẳng khởi dụng tưởng, ấy gọi là trì Kinh Pháp Hoa, trì Kinh như thế từ kiếp này sang kiếp khác tay chẳng rời Kinh, từ sáng đến tối, chẳng dứt tụng niệm vậy”.


    SANH TỬ SỰ ĐẠI, VÔ THƯỜNG TẤN TỐC

  4. #3
    LÁ Avatar của minh thức
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    319
    Thanks
    278
    Thanked 188 Times in 77 Posts


    Tăng Trí Thông, người ở An Phong tỉnh Thọ Châu, xem kinh Lăng Già hơn ngàn lần mà chẳng hiểu thế nào là tam thân tứ trí, đến lễ Sư xin giải thuyết cho, Sư nói:

    - Tam thân ấy là: Thanh Tịnh Pháp Thân tức tánh của ngươi; Viên Mãn Báo Thân là trí của ngươi; Thiên Bá Ức Hóa Thân là hạnh của ngươi vậy. Nếu lìa bản tánh mà nói tam thân, ấy gọi là có thân mà vô trí, nếu ngộ được tam thân vốn chẳng lìa tự tánh tức gọi là tứ trí Bồ Đề.

    Hãy nghe kệ đây:

    Tự tánh cụ tam thân,

    Phát minh thành tứ trí.

    Bất ly kiến văn duyên,

    Siêu nhiên đăng Phật địa.

    Ngô kim vị nhữ thuyết,

    Đế tín vĩnh vô mê.

    Mạc học trì cầu giả,

    Chung nhựt thuyết Bồ Đề.


    Dịch nghĩa:

    Tự tánh đủ tam thân,

    Khai ngộ thành tứ trí.

    Chẳng lìa sự thấy nghe,

    Đốn siêu địa vị Phật.

    Ta nay vì ngươi thuyết,

    Tin chắc trọn chẳng mê.

    Chớ học kẻ tìm cầu,

    Suốt ngày nói Bồ Đề.



    SANH TỬ SỰ ĐẠI, VÔ THƯỜNG TẤN TỐC

  5. #4
    LÁ Avatar của minh thức
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    319
    Thanks
    278
    Thanked 188 Times in 77 Posts


    Thông lại hỏi: “Cái nghĩa của tứ trí có thể nghe được chăng?”

    Sư nói: “Đã hiểu tam thân, tức rõ tứ trí, sao còn hỏi nữa! Nếu lìa tam thân mà nói tứ trí, ấy gọi là có trí mà chẳng có thân, dẫu cho có trí cũng trở thành vô trí”. Lại nói kệ rằng:

    Đại viên cảnh trí tánh thanh tịnh,

    Bình đẳng tánh trí tâm vô bệnh.

    Diệu quan sát trí kiến phi công,

    Thành sở tác trí đồng viên cảnh.

    Ngũ bát lục thất quả nhân chuyển,

    Đản dụng danh ngôn vô thật tánh.

    Nhược kim chuyển xứ bất lưu tình,

    Phiền hưng vĩnh xứ Na Già định.


    Dịch nghĩa:

    Đại viên cảnh trí tánh thanh tịnh,

    Bình đẳng tánh trí tâm chẳng bệnh.

    Diệu quan sát trí chẳng tác ý,

    Thành sở tác trí đồng viên cảnh.

    Năm, Tám, Sáu, Bảy quả nhân chuyển,

    Chỉ dùng tên gọi chẳng thật tánh.

    Nếu ngay nơi chuyển chẳng dính mắc,

    Ở chỗ náo động cũng đại định.


    Như thế là chuyển Thức thành Trí. Trong giáo môn chuyển Tiền ngũ thức thành Thành Sở Tác Trí; chuyển thức thứ sáu thành Diệu Quan Sát Trí, chuyển thức thứ bảy thành Bình Đẳng Tánh Trí, chuyển thức thứ tám thành Đại Viên Cảnh Trí. Dù thức thứ sáu, bảy là trong nhân chuyển, năm thức trước và thức thứ tám là trên quả chuyển, nhưng chỉ chuyển cái tên gọi mà chẳng chuyển cái thể vậy.


    SANH TỬ SỰ ĐẠI, VÔ THƯỜNG TẤN TỐC

  6. #5
    LÁ Avatar của minh thức
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    319
    Thanks
    278
    Thanked 188 Times in 77 Posts


    Trí Thông đốn ngộ tánh trí, bèn trình kệ rằng:

    Tam thân nguyên ngã thể,

    Tứ trí bổn tâm minh.

    Thân trí dung vô ngại,

    Ưng vật nhậm tùy hình.

    Khởi tu giai vọng động,

    Thủ trụ phi chơn tinh.

    Diệu chỉ nhân Sư hiểu,

    Chung vong nhiễm ô danh.


    Dịch nghĩa:

    Thể ta sẵn tam thân,

    Bản tâm đủ tứ trí.

    Thân trí dung lẫn nhau,

    Tiếp vật tùy cơ ứng.

    Mống tâm tu là vọng,

    Giữ yên cũng chẳng chơn.

    Nhờ Sư thấu diệu chỉ,

    Chẳng còn kẹt danh tướng.



    SANH TỬ SỰ ĐẠI, VÔ THƯỜNG TẤN TỐC

  7. #6
    LÁ Avatar của minh thức
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    319
    Thanks
    278
    Thanked 188 Times in 77 Posts


    Trí Thường nghe xong hoát nhiên tâm ngộ, bèn nói kệ rằng:

    Vô đoan khởi tri kiến,

    Trước tướng cầu Bồ Đề.

    Tình tồn nhất niệm ngộ,

    Ninh việt tích thời mê.

    Tự tánh giác nguyên thể,

    Tùy chiếu uổng thiên lưu.

    Bất nhập Tổ sư thất,

    Mang nhiên thú lưỡng đầu.


    Dịch nghĩa:

    Khi không khởi tri kiến,

    Chấp tướng cầu Bồ Đề.

    Tình chấp một niệm ngộ,

    Khó siêu nhiều kiếp mê.

    Bản thể tự tánh giác,

    Tùy chiếu vọng lưu chuyển.

    Chẳng vào thất Tổ sư,

    Si mê chạy hai đầu.

    (Hai đầu : Nhị biên tức là biên kiến)

    Một hôm Trí Thường hỏi Sư: “Phật thuyết pháp Tam thừa, lại thuyết Tối thượng thừa là thế nào? Đệ tử chưa rõ, xin thầy dạy bảo”.

    Sư nói: “Ngươi chỉ nên tự xét bản tâm, chớ chấp trước pháp tướng bên ngoài, pháp chẳng bốn thừa, tâm ngươi tự có sai biệt: Thấy nghe tụng niệm là Tiểu thừa; ngộ pháp hiểu nghĩa là Trung thừa; y pháp tu hành là Đại thừa; vạn pháp thông đạt, vạn pháp đầy đủ, tất cả chẳng nhiễm, lìa các pháp tướng, trọn vô sở đắc, gọi là tối thượng thừa. Thừa nghĩa là hành, chẳng ở nơi tranh biện, ngươi nên tự tu, chớ hỏi ta vậy, trong bất cứ lúc nào, tự tánh tự như như”.

    Trí Thường lễ tạ nguyện làm thị giả trọn đời Sư.


    SANH TỬ SỰ ĐẠI, VÔ THƯỜNG TẤN TỐC

  8. The Following User Says Thank You to minh thức For This Useful Post:

    Gia Bảo (01-16-2016)

  9. #7
    LÁ Avatar của minh thức
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    319
    Thanks
    278
    Thanked 188 Times in 77 Posts


    Vô thượng Đại Niết Bàn,

    Viên minh thường tịch chiếu.

    Phàm phu vị chi tử,

    Ngoại đạo chấp vi đoạn.

    Chư cầu nhị thừa nhân,

    Mục dĩ vi vô tác.

    Tận thuộc tình sở kế,

    Lục thập nhị kiến bản.

    Vọng lập hư giả danh,

    Hà vi chơn thật nghĩa.

    Duy hữu quá lượng nhơn,

    Thông đạt vô thủ xả.

    Dĩ tri ngũ uẩn pháp,

    Cập di uẩn trung ngã.

    Ngoại hiện chúng sắc tượng,

    Nhất nhất âm thanh tướng.

    Bình đẳng như mộng huyễn,

    Bất khởi phàm Thánh kiến.

    Bất tác Niết Bàn giải,

    Nhị biên tam tế đoạn.

    Thường ứng chư căn dụng,

    Nhi bất khởi dụng tưởng.

    Phân biệt nhất thiết pháp,

    Bất khởi phân biệt tưởng.

    Kiếp hỏa thiêu hải để,

    Phong cổ sơn tương kích.

    Chơn thường tịch diệt lạc,

    Niết Bàn tướng như thị.

    Ngô kim cưỡng ngôn thuyết,

    Linh nhữ xả tà kiến.

    Nhữ vật tùy ngôn giải,

    Hứa nhữ tri thiểu phần.


    Dịch nghĩa:

    Vô thượng Đại Niết Bàn,

    Sáng tròn thường tịch chiếu.

    Phàm phu gọi là chết,

    Ngoại đạo chấp đoạn diệt.

    Những người tu Nhị thừa,

    Cho đó là vô tác.

    Thảy đều do tình thức,

    Sáu mươi hai kiến chấp.([5])

    Vọng lập tên hư giả,

    Đâu phải nghĩa chơn thật.

    Chỉ có người kiến tánh,

    Thông đạt chẳng lấy bỏ.

    Vì biết pháp ngũ uẩn,

    Với cái ngã trong uẩn.

    Cả hiện tượng thế giới,

    Mỗi sắc tướng âm thanh.

    Bình đẳng như mộng huyễn,

    Chẳng phân biệt thánh phàm.

    Chẳng cho là Niết Bàn,

    Nhị biên ([6]) tam tế dứt.

    Thường ứng các căn dụng ([7]),

    Mà chẳng khởi dụng tưởng.

    Phân biệt tất cả pháp ([8]),

    Chẳng khởi phân biệt tưởng.

    Niết Bàn vốn phi vật,

    Lửa gió đụng chẳng được.

    Chơn vui thường tịch diệt,

    Tướng Niết Bàn như thế.

    Nay ta gượng nói ra,

    Khiến người bỏ tà kiến.

    Chớ hiểu theo lời nói,

    Mới cho biết ít phần.


    Chí Đạo nghe xong đại ngộ, vui mừng đảnh lễ lui ra.



    SANH TỬ SỰ ĐẠI, VÔ THƯỜNG TẤN TỐC

  10. #8
    LÁ Avatar của minh thức
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    319
    Thanks
    278
    Thanked 188 Times in 77 Posts


    Hành Tư Thiền Sư, họ Lưu, sanh ở An Thành, tỉnh Kiết Châu. Nghe nói Tào Khê giáo pháp thịnh hành, bèn đến tham lễ, hỏi: “Nên làm việc gì để khỏi lọt vào giai cấp?”

    Sư hỏi: “Ngươi đã từng làm việc gì?”

    Đáp: “Thánh đế cũng chẳng làm”.

    Sư hỏi: “Lọt vào giai cấp nào?”.

    Đáp: “Thánh đế còn chẳng làm, giai cấp nào mà có!”.

    Sư rất trọng, cho là pháp khí, cho làm quản chúng. Một hôm Sư nói: “Ngươi nên hóa độ một nơi, chớ cho đoạn dứt giáo pháp đốn ngộ này”.

    Hành Tư Thiền Sư đã đắc pháp, bèn về núi Thanh Nguyên ở Kiết Châu hoằng pháp, sau được vua sắc phong, hiệu là Hoàng Tế Thiền Sư.

    *
    * *


    Hoài Nhượng Thiền Sư, họ Đỗ ở Kim Châu. Lúc ban đầu đến lễ An Quốc Sư ở Tung Sơn, An Quốc Sư sai đến Tào Khê tham vấn. Nhượng đến lễ bái. Sư hỏi: “Từ đâu đến ?”.

    Đáp: “Tung Sơn”.

    Sư hỏi: “Cái vật gì mà đến như vậy?”.

    Nhượng trả lời chẳng được, nổi nghi tình trải qua tám năm, sau nói với Sư: “Nói tựa như một vật thì chẳng đúng”.

    Sư hỏi: “Còn có thể tu chứng chăng?”.

    Đáp: “Tu chứng thì chẳng phải không, ô nhiễm thì chẳng thể được”.

    Sư ấn chứng rằng: “Chỉ cái chẳng ô nhiễm này chư Phật đều hộ niệm, ngươi đã như vậy, ta cũng như vậy”. Nhượng hoát nhiên đại ngộ, bèn làm thị giả bên Sư mười lăm năm, ngày càng thấu triệt huyền chỉ thâm sâu. Sau đến núi Nam Nhạc, rộng truyền Thiền Tông, được vua sắc phong, hiệu Đại Huệ Thiền Sư.


    SANH TỬ SỰ ĐẠI, VÔ THƯỜNG TẤN TỐC

  11. #9
    LÁ Avatar của minh thức
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    319
    Thanks
    278
    Thanked 188 Times in 77 Posts


    Thiền Giả Trí Hoàng, tham học với Ngũ Tổ, tự cho mình đã được chánh thọ (chánh định), bèn chấp ngồi mãi trong am hơn hai mươi năm. Đệ tử của Sư là Huyền Sách hành cước đến Hà Bắc, nghe tên Trí Hoàng, liền đến am hỏi thăm. “Ông ở đây làm gì?”. Hoàng nói: “Nhập định”.

    Sách hỏi: “Ông nói nhập định, là có tâm nhập hay là không tâm nhập? Nếu nói không tâm nhập thì tất cả loài vô tình, cây cối ngói đá đều phải được định; nếu nói có tâm nhập thì tất cả loài hữu tình cũng đều được định”.

    Hoàng nói: “Ta đang lúc nhập định chẳng thấy có cái tâm CÓ và KHÔNG”.

    Sách nói: “Chẳng thấy có cái tâm CÓ và KHÔNG tức là thường định, đâu có xuất nhập? Hễ có xuất nhập thì chẳng phải đại định”.

    Hoàng không trả lời được, một lúc sau mới hỏi: “Thượng Tọa nối pháp ai?”.

    Sách nói: “Thầy tôi là Tào Khê Lục Tổ Đại Sư”.

    Hoàng hỏi: “Lục Tổ lấy gì làm thiền định?”.

    Sách nói: “Thầy tôi nói: Tự tánh huyền diệu trạm nhiên, viên tròn tịch diệt, thể dụng như như, ngũ uẩn vốn không, lục trần phi thật, chẳng xuất chẳng nhập, chẳng định chẳng loạn, tánh thiền vô trụ, chẳng trụ nơi thiền tịch, tánh thiền vô sanh, chẳng khởi thiền tưởng (chẳng tác ý cho là thiền), tâm như hư không, cũng chẳng có cái số lượng của hư không”.

    Hoàng nghe nói như vậy bèn đến lễ Sư. Sư hỏi: “Thượng Tọa từ đâu đến?”. “Hoàng thuật lại nhân duyên gặp Huyền Sách”. Sư nói: “Thật đúng như Huyền Sách nói. Ngươi hễ tâm như hư không, chẳng chấp vào không, ứng dụng vô ngại, động tịnh vô tâm (chẳng tác ý), Thánh phàm đều quên, năng sở đều diệt, tánh tướng như như, thì không lúc nào chẳng phải định vậy”.

    Trí Hoàng do đó đại ngộ, cái tâm sở đắc từ hai mươi năm đến nay đều tan rã chẳng còn hình bóng. Sau từ giã Sư về Hà Bắc hoằng pháp, khai hóa tứ chúng.

    *

    * *

    Có một đồng tử tên là Thần Hội, họ Cao, ở Tương Dương. Lúc mười ba tuổi từ chùa Ngọc Tuyền đến tham lễ. Sư nói: “Tri thức từ xa đến khổ nhọc, có đem theo cái bản lai đến chăng? Nếu có bản lai thì phải biết chủ nhơn, thử nói xem!”.

    Hội đáp: “Lấy vô trụ làm bản, cái thấy tức là chủ”.

    Sư nói: “Sa di này hay nói càn!”.

    Hội lại hỏi: “Hòa Thượng tọa thiền thấy hay chẳng thấy?”.

    Sư cầm cây gậy đánh ba cái, hỏi : “Ta đánh ngươi có đau hay chẳng đau ?”.

    Đáp: “Cũng đau cũng không đau”.

    Sư nói: “Ta cũng thấy cũng chẳng thấy!”.

    Hỏi: “Thế nào là cũng thấy cũng chẳng thấy?”.

    Sư nói: “Cái thấy của ta thường thấy lỗi của tự tâm, chẳng thấy phải quấy tốt xấu của người cho nên cũng thấy cũng chẳng thấy. Ngươi nói cũng đau cũng chẳng đau là thế nào? Nếu chẳng đau thì đồng với cỏ đá, nếu đau thì đồng với phàm phu, liền khởi sân hận. Ngươi vừa hỏi “Thấy, không thấy” là nhị biên (đối đãi), nói “đau, không đau” là sanh diệt, tự tánh ngươi còn chẳng tự thấy mà dám đùa người khác!”.

    Thần Hội bèn lễ bái cầu xin sám hối. Sư lại nói: “Ngươi nếu tâm mê chẳng thấy cần phải hỏi thiện tri thức để chỉ đường, ngươi nếu tâm ngộ tức tự thấy tánh, phải y pháp tu hành. Nay ngươi mê chẳng thấy tự tâm, lại đến hỏi ta thấy hay không thấy, ta thấy tự ta biết, chẳng dính dáng cái mê của ngươi, ngươi nếu tự thấy, cũng chẳng dính dáng cái mê của ta, sao chẳng tự thấy tự biết, mà lại hỏi ta thấy hay chẳng thấy!”.

    Thần Hội lạy lễ thêm hơn trăm lạy, xin sám hối tội lỗi, ân cần hầu hạ bên Sư chẳng rời. Một hôm Sư bảo chúng: “Ta có một vật, chẳng đầu chẳng đuôi, chẳng danh chẳng tự, chẳng lưng chẳng mặt, các ngươi có biết chăng?”.

    Thần Hội bèn ra nói: “Ấy là bổn nguyên của chư Phật, Phật tánh của Thần Hội”.

    Sư nói: “Đã nói với ngươi là chẳng danh chẳng tự, ngươi bèn gọi là bổn nguyên Phật tánh, ngươi sau này dẫu cho có ra hoằng pháp cũng chỉ thành một môn đồ tri giải mà thôi”.

    Sau khi Lục Tổ viên tịch, Thần Hội vào trong kinh thành Lạc Dương, rộng truyền đốn giáo của Tào Khê, soạn bộ Hiển Tông Ký, thịnh hành nơi đời, hiệu là Hà Trạch thiền Sư.


    SANH TỬ SỰ ĐẠI, VÔ THƯỜNG TẤN TỐC

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •