Tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là tâm Phật. Tâm Phật không dính mắc sáu trần, vì sáu trần là pháp sanh diệt dính mắc, pháp sanh diệt là tâm hư vọng của chúng sanh. Cho nên Bồ Tát muốn an trụ nơi tâm Phật thì không nên dính mắc sáu trần. Còn chạy theo sáu trần là còn thấy trong có tâm, ngoài có cảnh, nằm trong pháp đối đãi giả dối. Biết trần cảnh duyên hợp giả dối, dừng tâm không chạy theo nó là sống trở về tánh chơn thật tuyệt đối của mình, Đó là pháp môn bất nhị trong kinh Duy Ma Cật.

Kinh Duy Ma Cật có đoạn :

Ông Duy Ma Cật nói với các vị Bồ Tát : Các nhân giả ! Thế nào là Bồ Tát vào : "pháp môn không hai ?" Cứ theo chỗ hiểu của mình mà nói.

Bồ Tát Pháp Tự Tại nói : Các nhân giả ! Sanh diệt là hai. Pháp vốn không sanh cũng không diệt, được vô sanh pháp nhẫn, đó là vào "pháp môn không hai".

Bồ Tát Đức Thủ nói : Ngã, ngã sở là hai. Nhơn có ngã mới có ngã sở, nếu không có ngã thì không có ngã sở, đó là vào "pháp môn không hai".

Bồ Tát Văn Thù nói : Như ý tôi, đối với tất cả Pháp không nói không bàn, không chỉ không biết, xa lìa các vấn đáp, đó là vào "pháp môn không hai".

Ngài Văn Thù hỏi ông Duy Ma Cật : Chúng tôi ai cũng nói rồi, đến lượt nhân giả nói thế nào là "pháp môn không hai ?"

Ông Duy Ma Cật ngồi im lặng.

Ngài Văn Thù khen : Hay thay ! Hay thay ! Cho đến không có văn tự ngữ ngôn, đó mới thật vào "pháp môn không hai (Kinh Duy Ma Cật, phẩm Pháp Môn Bất Nhị).

Người đọc kinh Phật rất khó hiểu vì cách lập ngôn trong kinh. Thế thường nói hai hoặc nói một, nếu không phải một, là hai, không phải hai là một. Tại sao trong kinh nói "không hai" mà chẳng nói một ?. Bởi một đối hai, hai đối một, ở đây chỉ pháp thoát ngoài đối đãi nên nói "không hai". Nếu có dùng ngôn ngữ cũng vì để dẹp ngôn ngữ, như đoạn Ngài Văn Thù nói. Đến chỗ cứu cánh ấy không còn lời để diễn bày, vừa có diễn bày đều rơi vào đối đãi, chỉ ngay đó nhận được mới là người đạt đạo. Chính đó là chỗ im lặng của ông Duy Ma Cật. Nói mà không nói là mượn ngôn ngữ để dẹp ngôn ngữ, không nói mà nói là im lặng để thầm chỉ Chơn Lý Tuyệt Đối bặt hết ngữ ngôn. Đó là thái độ hai vị Bồ Tát ở cuối phẩm này.

Trong các kinh còn đầy dẫy những đoạn chỉ dạy Chơn Lý Tuyệt Đối này, chỉ e dẫn lắm thêm rườm, chúng ta hãy bước sang lãnh vực Thiền Sư.

Trước tiên là bài thuyết pháp kỳ diệu của Tổ Huệ Năng :

Sau khi khai ngộ, được Ngũ Tổ truyền y bát bảo trở về phương Nam, Tổ đi đến ngọn Dứu Lãnh bị Huệ Minh đuổi theo kịp. Tổ để y bát trên tảng đá vào rừng ẩn. Huệ Minh đến gặp y bát, song giở lên không nổi, gọi :

- Hành giả ! Tôi đến đây vì pháp, kkông phải vì y bát.

Tổ nghe gọi, bước ra ngồi trên tảng đá bảo :

- Nếu ông vì pháp, háy bình tâm nghe tôi nói.

Huệ Minh đứng yên lặng giây lâu

Tổ bảo :

- KHÔNG NGHĨ THIỆN, KHÔNG NGHĨ ÁC, CÁI GÌ LÀ BẢN LAI DIỆN MỤC CỦA THUỢNG TỌA MINH.

Nghe câu này, Huệ Minh liền đại ngộ.

Bài thuyết pháp ngắn, gọn này phản ảnh trung thực một sự nghiệp to tát Tổ vừa lãnh hội nơi Ngũ Tổ và đang mang nó về phương Nam. Chính đó cũng là bản hoài của chư Phật.