Chúng ta tạm đặt những nguyên tắc để khả dĩ nhận ra mặt mày của nó. Phàm cái gì "có hình tướng đều do duyên hợp là hư giả", cái gì "có tác động là sanh diệt"', cái gì "đối đãi là không thật". Ngược lại, cái gì "không hình tướng, không tác động, khống đối đãi là chơn thật, thường còn, vô sanh". Cái không hình tướng thì không giới hạn chỗ nơi trong ngoài. Vừa đặt câu hỏi tìm chỗ nơi với nó là sai. Cái không tác động thì không sanh diệt, không bị vô thường theo thời gian. Đặt vấn đề thời gian với nó là sai. Cái không đối đãi thì không còn so sánh, không phân biệt. Đặt vấn đề so sánh phân biệt với nó là sai. Thực thể này tràn đầy hiện hữu nơi chúng ta, Vừa dấy tâm tìm kiếm nó là sai. Nó là thực thể của giác tri, không phải cái đối tượng giác tri. Nếu khởi nghĩ cầu biết nó là sai. Nó không hình tướng, không tác động, không đối đãi, mà có mặt khắp ba nơi ấy. Cho nên nghĩ ly khai hình tướng tác động đối đãi để tìm nó là sai. Yếu chỉ nhận ra nó là tự ta "trực nhận, thầm nhận". Lời Phật dạy, phương tiện Tổ chỉ đều là lối "đập cỏ rắn sợ" hay "vỗ nước cá đau đầu" mà thôi. Chúng ta muốn nhận ra nó phải khéo nhìn theo tinh thần "ngón tay chỉ mặt trăng". Mặt trăng không nằm tại đầu ngón tay, khéo nương theo ngón tay thấy mặt trăng ở tận trong hư không. Hoặc nhìn theo tinh thần soi gương. Nhơn thấy bóng trong gương, biết được mặt thật của mình, đừng chấp bóng là thật, đợi khi xoay gương mất bóng la hoảng lên "mất mình".

Đây là phương tiện tạm đặt những nguyên tắc, nương nó khả dĩ chúng ta thấy được thực thể chính mình.

Thực thể này biếu lộ thường xuyên nơi sáu cơ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) của chúng ta, mà không lệ thuộc hoàn toàn sáu cơ quan ấy. Dễ nhận dễ thấy nhất là ở mắt và tai. Vì thế, đức Phật khi muốn chỉ thực thể chẳng sanh chẳng diệt ấy, thường dùng phương tiện chỉ ngay nơi mắt và tai của chúng ta.

Kinh Lăng Nghiêm có đoạn :

... Phật ở trong đại chúng đưa tay lên rồi nắm lại xòe ra, nắm lại xòe ra, hỏi Ngài A Nan : Nay ông thấy cái gì ? A Nan thưa : Con thấy bàn tay trăm báu của Như Lai ở trong chúng xòe nắm. Phật bảo A Nan : Ông thấy tay ta ở trong chúng xòe nắm, là tay ta có xòe có nắm hay cái thấy của ông có xòe có nắm ? A Nan thưa : Tay trăm báu của Thế Tôn ở trong chúng xòe nắm. Con thấy tay Như Lai tự xòe nắm, chẳng phải tánh thấy của con có xòe nắm. Phật hỏi : Cái nào động cái nào tịnh ? A Nan thưa : Tay Phật động, tánh thấy của con còn không có tịnh, huống nữa là động. Phật khen : Đúng thế !

Lúc đó, trong lòng bàn tay Phật phóng một làn hào quang báu soi bên phải Ngài A Nan, A Nan liền xoay đầu nhìn bên phải; lại phóng quang soi bên trái Ngài A Nan, A Nan xoay đầu nhìn bên trái.

Phật hỏi A Nan : Hôm nay tại sao đầu ông dao động ? A Nan thưa : Con thấy hào quang báu của Như Lai phóng đến bên trái bên phải của con, con nhìn theo hai bên nên đầu tự dao động. Phật hỏi : Ông nhìn hào quang Phật soi bên trái bên phải nên đầu dao động, thế là đầu ông động hay cái thấy động ? A Nan thưa : Bạch Thế Tôn ! Đầu con tự động, tánh thấy của con còn chẳng dừng, huống là dao động. Phật khen : Đúng thế !

Khi ấy, Như Lai bảo khắp đại chúng rằng : Nếu như chúng sanh nhận lấy cái dao động gọi là trần, nhận lấy cái dao động gọi là khách. Các ông xem A Nan, đầu tự dao động cái thấy không động. Lại xem ta, tay tự xòe nắm, cái thấy không xòe nắm. Tại sao hôm nay các ông lấy động làm thân, lấy động làm cảnh, từ thủy đến chung niệm niệm sinh diệt, quên mất chơn tánh làm việc điên đảo, tâm tánh đã mất chơn, nên nhận vật làm mình, ở trong luân hồi tự chịu lưu chuyển. (Kinh Lăng Nghiêm cuối quyển 1 Hán tự).