TUỆ GIÁC VÔ NGÃ
Đôi khi tôi tự hỏi một người nhà quê ở Tây Tạng sẽ cảm thấy thế nào nếu bạn thình lình đưa họ đến một đô thị tân tiến với đủ thứ kỹ thuật tinh xảo. Có lẽ người ấy sẽ tưởng mình đã chết và đang ở trong trạng thái Bardo, sẽ há hốc miệng ra, đầy ngờ vực, mà nhìn những chiếc phi cơ bay trong bầu trời trên đầu y, hoặc ngắm một người đang nói chuyện bằng điện thoại với một người khác ở bên kia thế giới. Y sẽ cho rằng mình đang chứng kiến những phép thần thông. Thế mà tất cả điều đó dường như rất tự nhiên đối với người sống trong thế giới tân tiến, được nền giáo dục Tây phương giải thích từng bước một.
Cũng giống như thế, trong Phật giáo Tây Tạng, có một nền giáo dục tâm linh cơ bản, sơ đẳng, bình thường, một sự huấn luyện tâm linh đầy đủ về cõi trung gian là cuộc đời này, đem lại cho bạn ngữ vựng thiết yếu, ABC của tâm thức. Căn bản của sự huấn luyện này được gọi là “ba dụng cụ của trí tuệ”: Văn tuệ, biết lắng nghe; Tư tuệ, biết tư duy quán tưởng, và Tu tuệ, biết thiền. Nhờ đấy chúng ta đi đến chỗ đánh thức tự tính tâm của ta, nhờ đấy chúng ta tìm thấy được sự thật ta là ai, và thể hiện niềm vui giải thoát - gọi là trí vô ngã.
Tưởng tượng một người thình lình tỉnh dậy ở bệnh viện sau một tai nạn xe hơi, và thấy mình hoàn toàn mất trí nhớ. Bên ngoài, mọi sự vẫn y nguyên: Nàng vẫn còn gương mặt ấy, hình dáng ấy, các giác quan và tâm vẫn ở đấy, nhưng hoàn toàn không nhớ thực sự mình là ai. Cũng y hệt như vậy, ta không thể nhớ được bản lai diện mục của mình. Khinh hoàng, sợ hãi, ta nhìn quanh và đặt bày ra một lý lịch khác, một lý lịch ta bám lấy với tất cả sự tuyệt vọng của một người đang rơi vào hố thẳm. Cái lý lịch giả tạo, được bày đặt trong lúc vô minh đó gọi là cái tôi, “tự ngã.”
Vậy, ngã là sự vắng mặt tri kiến chân thực về ta là ai, cùng với những hậu quả của nó: Một sự bám víu tuyệt vọng, bằng mọi giá, vào một khối chắp vá, một hình ảnh tạm thời về cái ta, một tự ngã luôn luôn biến chuyển và phải biến chuyển để duy trì cái ảo tưởng về hiện hữu của nó. Tạng ngữ gọi ngã là dak dzin, có nghĩa “tóm lấy một cái ngã.” Ngã như vậy được định nghĩa là những di chuyển không ngừng của sự chấp thủ một quan niệm lừa dối về “tôi” và “của tôi,” tự và tha, và chấp thủ mọi khái niệm, ý tưởng, dục vọng, và hoạt động nào sẽ duy trì cái cấu trúc giả tạo ấy. Một sự bám víu như vậy là vô lối ngay từ khởi thủy, và đương nhiên phải bất mãn, vì không có cơ sở chân lý nào trong đó, vì những gì ta bám víu tự bản chất đã không thể nắm bắt. Sự kiện chúng ta cần bám víu và cứ vẫn tiếp tục bám víu, chứng tỏ rằng tự thẳm sâu trong bản thể ta, ta biết cái ngã đó vốn không có thực chất nội tại. Từ cái biết âm thầm, làm ta bực bội đó, phát sinh mọi nỗi bực bội đó, phát sinh mọi nỗi bất an lo sợ trong ta.
Bao lâu ta chưa lột mặt nạ cái ngã thi nó còn tiếp tục đánh lừa chúng ta, như một chính trị gia bịp bợm luôn luôn rêu rao những hứa hẹn giả dối, hay một luật sư không ngừng phát minh những lời nói dối và biện hộ tinh vi, hay một chuyên viên quảng cáo cứ tiếp tục ba hoa những lời thuyết phục ngọt lịm mà trống rỗng.
Nhiều đời kiếp vô minh đã đưa ta đến chỗ đồng hóa toàn diện bản thể mình với cái ngã. Chiến thắng lớn nhất của cái ngã là thuyết phục được cho ta tin rằng lợi lạc nhất cho nó cũng là cho ta, và lại còn đồng hóa sự sống còn của ta với của chính nó. Đây là một mỉa mai to lớn, khi ta xét rằng ngã và sự chấp thủ của nó chính là gốc rễ mọi đau khổ của ta. Nhưng vì chúng ta đã bị cái ngã lừa bịp quá lâu, bị nó thuyết phục quá hay, đến nỗi nội cái ý nghĩ rằng ta có thể trở thành vô ngã làm cho ta sợ hãi. Cái ngã rỉ tai ta rằng, vô ngã là mất hết tất cả huyền thoại phong phú của con người, chỉ còn là một người máy vô vị hay một cây cỏ không óc não.
Cái ngã đánh một đòn xuất sắc vào nỗi sợ hãi căn để của ta, là sợ mất quyền kiểm soát, sợ cái mà ta chưa từng biết. Ta có thể tự nhủ:
- “Mình cũng nên buông cái ngã ra lắm chứ, mình đau khổ vì nó, nhưng nếu mình làm thế, thì cái gì sẽ xảy đến cho mình?”
Cái ngã sẽ tán đồng ngay trong một cách ngọt lịm:
- “Tôi biết đôi khi tôi cũng rầy rà thực, và thực tình tôi hoàn toàn thông cảm nếu anh muốn buông tôi ra. Nhưng có thực anh muốn như thế không nào? Ai sẽ săn sóc anh? Ai sẽ che chở và thương lấy anh như tôi đã làm bao nhiêu năm nay?”
Và ngay dù ta thấy rõ tận ruột gan những lời dối trá của cái ngã, chúng ta cũng quá sợ không dám bỏ nó, vì ta chưa biết một tí gì về tự tính của tâm ta, lý lịch chân thực của ta, nên rõ ràng ta không có cách nào khác hơn là bám lấy ngã. Chúng ta tuân theo những đòi hỏi của nó với thái độ tự khinh ghét, như bợm rượu với lấy chất uống mà y biết đang tàn phá y, hoặc như kẻ ghiền ma túy lục tìm chất kích thích mà họ biết sau một hồi “phi” ngắn ngủi sẽ đem lại cho họ sự chán chê tuyệt vọng.

Trả lời với trích dẫn