DIỄN ĐÀN PHẬT PHÁP THỰC HÀNH - Powered by vBulletin




Cùng nhau tu học Phật pháp - Hành trình Chân lý !            Hướng chúng sinh đi, hướng chúng sinh đi, để làm Phật sự không đối đãi.


Tánh Chúng sinh cùng Phật Quốc chỉ một,
Tướng Bồ Đề hóa Liên hoa muôn vạn.

Trang 5/26 ĐầuĐầu ... 3456715 ... CuốiCuối
Hiện kết quả từ 41 tới 50 của 255
  1. #41
    Avatar của choconxauxi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    471
    Thanks
    388
    Thanked 317 Times in 168 Posts


    PHƯƠNG PHÁP TRONG THIỀN

    Nếu tâm bạn tự nó có thể an trú một cách tự nhiên và nếu bạn thấy mình có thể trú trong sự tỉnh thức thuần tịnh của tâm bạn, thì khi ấy bạn không cần phương pháp nào để thiền định nữa. Quả thế, đôi khi còn không nên cố sử dụng một phương pháp, khi tâm bạn đã ở trong một trạng thái như vậy. Tuy nhiên, phần đông chúng ta thấy khó mà đạt tới trạng thái đó ngay được. Chúng ta không biết làm sao để đánh thức tâm, tâm ta quá hoang vu và xao lãng đến độ ta cần một phương tiện thiện xảo, một phương pháp tốt, để hô triệu nó lên.

    Tôi muốn nói “thiện xảo” nghĩa là hợp nhất cái biết của bạn về tự tánh tâm, cái biết những tâm trạng đang thay đổi nơi bạn và cái biết đối trị mà bạn đã phát triển qua sự thực tập – những vọng tưởng trong từng giai đoạn. Nhờ hòa hợp chúng lại, mà bạn học được nghệ thuật áp dụng phương pháp thích hợp cho bất cứ một tình huống hay vấn đề đặc biệt nào, để chuyến hóa bối cảnh của tâm bạn.

    Nhưng nên nhớ rằng phương pháp chỉ là phương tiện, không phải chính là thiền định. Nhờ thực hành phương pháp một cách thiện xảo mà bạn có thể đạt đến trạng thái thuần tịnh của sự tỉnh giác toàn vẹn, mà chính là thiền đích thực.

    Tạng ngữ có câu: “Gompa ma yin, kompa yin” nghĩa là, không có thiền định mà chỉ có sự quen thực hành thiền định. Thiền định không phải là nỗ lực, mà tự nhiên thấm nhuần. Khi bạn tiếp tục áp dụng phương pháp, thì dần dần thiền định phát sinh. Thiền định không phải là một cái gì bạn có thể làm, nó xảy đến một cách tự nhiên, chỉ khi bạn đã thuần thục trong sự thực tập.

    Tuy nhiên muốn thiền định xảy đến, thì cần tạo những điều kiện yên tĩnh và tốt lành. Muốn làm chủ được tâm, ta cần phải làm cho hoàn cảnh xung quanh được an tịnh. Lúc này tâm ta giống như ngọn đèn cầy luôn luôn lay động bởi những ngọn gió mạnh của ý tưởng và cảm xúc. Ngọn đèn chỉ đứng yên khi ta làm cho không khí xung quanh nó lắng xuống. Ta chỉ có thể thoáng thấy tự tính tâm và an trú trong đó, khi những ý tưởng và cảm xúc quay cuồng của ta đã lắng xuống. Ngược lại, khi ta đã an trú trong thiền định thì những tiếng ồn và rối loạn đủ loại sẽ rất ít ảnh hưởng.

    Ở Tây phương, người ta quen thói chú mục vào cái mà tôi gọi là “kỹ thuật thiền định”. Thế giới ngày nay thực say mê máy móc cơ khí, và chỉ thích những công thức thực tiễn. Nhưng điều quan trọng hơn nhiều ở trong thiền không phải là kỹ thuật, mà là tinh thần, cách thế thiện xảo và đầy sáng tạo trong đó ta thực hành thiền định, gọi là thế ngồi.



    Thanh thanh thúy trúc, tổng thị Pháp thân,
    Uất uất huỳnh hoa, vô phi Bát Nhã

  2. #42
    Avatar của choconxauxi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    471
    Thanks
    388
    Thanked 317 Times in 168 Posts


    THẾ NGỒI

    Những bậc thầy nói:

    - Nếu bạn tạo một điều kiện tốt lành trong thân và cảnh, thì thiền và ngộ sẽ tự động sinh khởi.

    Nói về thế ngồi không phải là dạy một chuyện bí truyền; toàn bộ của việc ngồi đúng cách chỉ là để tạo một bối cảnh gợi cảm hứng cho thiền, cho sự thức dậy của Rigpa. Có sự tương quan giữa thế ngồi của thân với thái độ của tâm, và thiền định phát sinh một cách tự nhiên khi có thế ngồi và thái độ thích hợp.

    Nếu bạn đang ngồi mà tâm không hoàn toàn hòa điệu với thân – chẳng hạn bạn đang lo lắng bận rộn một việc gì – thì thân bạn sẽ kinh quá nỗi bực dọc vật lý, và những khó khăn dễ dàng xảy ra. Trong khi nếu tâm bạn an tĩnh, nó sẽ ảnh hưởng đến toàn thể thế ngồi của bạn, bạn có thể ngồi tự nhiên không cần cố gắng. Bởi thế thực rất quan trọng để phối hợp thế ngồi của thân với niềm tin phát sinh từ sự trực ngộ bản tâm nơi bạn.

    Thế ngồi tôi sắp giải thích có thể khác những thế ngồi mà bạn đã quen. Nó rút từ giáo lý Dzogchen ngày xưa, đó là thế ngồi mà các bậc thầy đã dạy tôi, và tôi thấy nó đầy hiệu lực.

    Trong giáo lý Dzogchen nói rằng Cái thấy và Thế ngồi của bạn phải như ngọn núi. Cái thấy là đỉnh cao của toàn thể tri kiến và tuệ giác về bản tâm mà bạn đem vào thiền định. Bởi vậy cái thấy ấy gợi cảm hứng cho thế ngồi của bạn, diễn tả cốt lõi của bản thể bạn trong lối bạn ngồi.

    Vậy, hãy ngồi như thể bạn là một ngọn núi, với tất cả uy thế lẫm liệt vững chắc không ai lay chuyển nổi, của một ngọn núi. Ngọn núi hoàn toàn tự nhiên, thoải mái dù có bao nhiêu ngọn gió mạnh tạt qua nó, bao nhiêu đám mây đen dày vần vũ quanh nó. Ngồi như một ngọn núi, bạn để tâm bạn vươn lên và bay lượn.

    Điều quan trọng nhất trong thế ngồi này là giữ lưng thẳng như một mủi tên hay một cọc tiền vàng. Nội khí hay prana sẽ tuôn chảy thông suốt qua các huyệt đạo cơ thể, và tâm bạn sẽ tìm được trạng thái an nghỉ thực sự của nó. Đừng gắng gượng cưỡng ép cái gì cả. Phần dưới của cột sống có một đường cong tự nhiên; nên thư dãn nó theo chiều thẳng đứng. Đầu bạn nên an nghỉ thoải mái trên cần cổ. Đôi vai và phần trên ngực mang tất cả sức mạnh và vẻ đẹp của thế ngồi, cần giữ yên, vững, nhưng không được có một sự căng thẳng nào.

    Hãy ngồi khoanh chân, không cần phải theo thế hoa sen (kiết già) như trong pháp Yoya cao cấp. Đôi chân khoanh lại biểu trưng sự nhất thể giữa sống và chết, thiện và ác, phương tiện và trí tuệ, nguyên lý âm dương, sinh tử niết bàn, trạng thái bất nhị. Bạn cũng có thể ngồi trên ghế để thỏng chân, nhưng điều cần thiết là phải giữ lưng cho thẳng.

    Trong truyền thống thiền của tôi, thì đôi mắt phải mở: Đây là điều tối quan trọng. Nếu bạn nhạy cảm đối với những quấy rầy bên ngoài, thì mới đầu bạn có thể nhắm mắt lại một lúc, và lặng lẽ xoay cái nhìn vào trong (nội quán). Khi đã định tĩnh, và từ từ mở mắt ra bạn sẽ thấy cái nhìn của bạn đã trở nên an tịnh hơn. Bấy giờ bạn nhìn xuống dọc theo sóng mũi, làm thành một góc bốn mươi lăm độ trước mặt. Thông thường một cái mánh thực tiễn là khi tâm tán loạn, tốt nhất là hạ tầm nhìn xuống, và khi lừ đừ muốn ngủ thì đưa tầm nhìn lên.

    Khi tâm đã định tĩnh, sự sáng suốt của tuệ giác bắt đầu sinh khởi, bạn có thể tự nhiên nhìn lên, mở lớn mắt hơn và nhìn vào khoảng không gian ngay trước mặt. Đấy là cái nhìn mà giáo lý Dzogchen thường dạy.

    Giáo lý Dzogchen dạy rằng thiền định và cái nhìn của bạn phải giống như không gian bao la của đại dương: Cùng khắp, khoáng đạt và vô giới hạn. Cũng như Cái thấy và Thế ngồi không rời nhau, thiền định và lối nhìn của bạn cũng tan hòa thành một.

    Khi ấy đừng chú ý vào một cái gì đặc biệt, trái lại nhẹ nhàng xoay vào trong tâm bạn, cứ để cái nhìn trải rộng, càng lúc càng bao la, thấm nhuần khắp. Bấy giờ bạn sẽ thấy “cái thấy” của bạn cũng rộng rãi hơn, và nhờ thế trong tia mắt của bạn có niềm bình an hơn, có niềm bi mẫn, hỉ xả và trầm tĩnh hơn.

    Tạng ngữ gọi vị Phật của lòng Từ bi là Chenrezig. Chen là con mắt, re là khóe mắt, và zig là nhìn; có nghĩa rằng, với đối mắt bi mẫn, ngài nhìn thấy nhu cầu của mọi chúng sinh. Vậy bạn hãy dồn sự bi mẫn – phát sinh từ thiền quán – vào đôi mắt, sao cho cái nhìn của bạn chính là cái nhìn của tâm đại bi, bao la như đại dương, và soi thấy cùng khắp.

    Có nhiều lý do để giữ đôi mắt mở. Khi mở mắt, bạn ít buồn ngủ. Và thiền định không phải là một cách trốn đời, hay để tâm thoát li vào một trạng thái xuất thần mê mẩn. Trái lại, đó là cách trực tiếp giúp ta thực sự biết mình trong tương giao với cuộc đời và mọi người.

    Bởi thế, trong thiền định, bạn để con mắt mở, không nhắm mắt. Thay vì đóng cửa để cuộc đời ra ngoài, bạn có thái độ phóng khoáng và hòa bình với mọi sự. Bạn để cho các giác quan - thấy nghe cảm giác – cứ mở ra tự nhiên mà không bám víu vào những cái biết của chúng. Dudjom Rinpoche nói:

    - Mặc dù nhiều hình sắc được thấy, tự bản chất chúng là không (trống rỗng); tuy thế trong không ta thấy sắc. Mặc dù nhiều âm thanh được nghe, tự bản chất chúng là không; tuy thế trong không ta nghe tiếng, Cũng vậy, nhiều ý nghĩ khởi lên, chúng vốn là trống rỗng, tuy thế trong không, ta thấy có tư tưởng.

    Bất cứ gì bạn thấy, nghe, cứ để mặc chúng, đừng bám víu. Để cái nghe cứ là cái nghe, để cái thấy cứ là cái thấy, không để cho sự bám víu của bạn đi vào trong đó.

    Theo sự thực tập quang sắc đặc biệt của Dzogchen, mọi ánh sáng của trí tuệ ta nằm ở tim, liên lạc tới con mắt qua những huyệt đạo thuộc trí tuệ. Con mắt là cửa ngõ của quang tướng, bởi thể bạn để mắt mở để khỏi bế tắc các huyệt đạo trí tuệ.

    Khi thiền định, bạn để miệng hơi hé mở, như thể sắp thốt ra một tiếng Aaaah sâu dài thư dãn. Khi hé miệng và thở phần lớn qua ngõ ấy, người ta bảo, những luồng gió nghiệp gây ra tư tưởng tán loạn làm chướng ngại thiền định, nhờ thế mà ít có dịp phát sinh.

    Tay bạn nghỉ ngơi thoái mái bao bọc hai đầu gối. Đây gọi là thế ngồi làm cho tâm an lạc.

    Có một tia hy vọng lạc quan trong thế ngồi này, do sự ngầm hiểu chúng ta đều có Phật tính. Bởi vậy khi ngồi như thế, ta đang bắt chước một đức Phật, xác nhận và khuyến khích sự xuất hiện của Phật tính trong ta. Quả thế, bạn khởi sự tôn trọng chính mình như một vị Phật tiềm tàng.

    Đồng thời, bạn vẫn nhận ra hoàn cảnh tương đối của mình. Nhưng vì bạn đã được cảm hứng từ niềm tin ở Phật tính thực sự của bạn, ban có thể dễ chấp nhận những khía cạnh tiêu cực nơi mình hơn, đối xử với chúng tử tế hơn, và có thái độ hài hước hơn. Vậy khi thiền định, bạn nên mời chính bạn hãy cảm thấy tự tôn trọng, hãy thấy mình có tư cách, và có sự khiêm cung của một vị Phật. Bạn chỉ cần gợi lên niềm tin lạc quan đó là đủ: Từ niềm vui và sự hiểu biết ấy, tự nhiên thiền định sẽ phát sinh.



    Thanh thanh thúy trúc, tổng thị Pháp thân,
    Uất uất huỳnh hoa, vô phi Bát Nhã

  3. #43
    Avatar của choconxauxi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    471
    Thanks
    388
    Thanked 317 Times in 168 Posts


    BA PHƯƠNG PHÁP THIỀN QUÁN

    Đức Phật dạy tám muôn bốn ngàn pháp môn để thuần hóa và an định những cảm xúc tiêu cực, và trong Phật giáo có vô số phương pháp thiền định. Tôi tìm thấy có ba kỹ thuật thiền đặc biệt hiệu nghiệm trong thế giới ngày nay, mà ai cũng có thể sử dụng để được lợi lạc. Đó là phương pháp “canh chừng” hơi thở, sử dụng một vật làm đối tượng, và nhẩm đọc một câu thần chú.

    1. Quán hơi thở.

    Phương pháp này rất xưa và có mặt trong tất cả trường phái Phật giáo. Đó là để tâm chú ý vào hơi thở một cách nhẹ nhàng đầy chánh niệm.

    Hơi thở là sự sống, sự biểu hiện căn bản nhất của cuộc đời ta. Trong Do thái giáo thì ruah, hơi thở, là linh hồn của Thượng đế thấm khắp tạo vật; trong Ki tô giáo cũng có dây nối mật thiết giữa đấng Thánh linh – nguồn gốc của mọi sự sống – và hơi thở. Trong giáo lý Phật, thì hơi thở, Phạn ngữ là prana, được gọi là “cỗ xe của tâm”, vì chính hơi thở làm cho ta tâm ta di chuyển. Bởi thế khi ta làm an tịnh tâm bằng cách làm việc khéo léo với hơi thở, thì cũng như ta đang luyện tâm và hàng phục tâm. Có phải ai trong chúng ta cũng đã từng thấy khỏe khoắn biết bao khi đang gặp căng thẳng mà ngồi lại vài phút để thở những hơi thở vào ra thật chậm và sâu không? Ngày cả một tập luyện đơn giản như thế cũng có thể giúp ta rất nhiều.

    Vậy khi thiền định, bạn hãy thở tự nhiên, như thường ngày bạn thở. Tập trung sự chú ý của bạn vào hơi thở ra. Khi thở ra, bạn hãy buông ra theo hơi thở tất cả sự bám víu của bạn. Tưởng tượng hơi thở bạn tan vào trong khoảng không bao la của chân lý. Mỗi lần thở ra, trước khi hít vào lại, bạn sẽ thấy có một khoảng hở tự nhiên, khi sự chấp thủ đã tan biến.

    Hãy an trú trong khoảng hở ấy, không gian rộng mở ấy. Và khi tự nhiên bạn thở vào, thì đừng chú ý hơi thở vào, mà cứ tiếp tục an trú tâm nơi khoảng hở đã mở ra ấy.

    Khi thực tập, điều quan trọng là bạn đừng vướng vào sự luận giải, phân tích trong tâm, hay thói lải nhải nội tâm. Đừng lầm sự lặp đi lặp lại trong tâm rằng “Bây giờ tôi đang thở vào, bây giờ tôi đang thở ra” cho đó là chánh niệm; cái quan trọng là sự tỉnh giác thuần túy không xao lãng.

    Đừng quá tập trung vào hơi thở; chỉ để cho nó chừng hai mươi lăm phần trăm, còn bảy mươi lăm phần trăm thì bạn hãy buông xả một cách lặng lẽ bao la. Càng chánh niệm hơi thở, bạn càng tỉnh thức về chính mình, gom lại những mảnh vụn phân tán của bạn thành một nhất thể, tính nhị nguyên và ngăn cách tan biến.

    Chính tiến trình chánh niệm ấy lọc sạch tư tưởng và cảm xúc bạn. Khi ấy, bạn cảm như đã rũ bỏ một cái lốt da ngoài, có cái gì được lột sạch, được phóng thích.

    Tuy nhiên có nhiều người không được thoải mái với pháp quán hơi thở, họ còn thấy gần như bị ngộp. Đối với họ, kỹ thuật sau đây có thể tốt hơn.

    2. Dùng một vật làm đối tượng.

    Phương pháp thứ hai, mà nhiều người thấy tốt, là an tâm vào một đối tượng. Bạn có thể dùng một vật đẹp tự nhiên gợi cảm đối với bạn, như một đóa hoa hay bình pha lê. Nhưng một cái gì biểu tượng cho chân lý, như tượng Phật, Chúa, hay nhất là bậc thầy của bạn. Thầy là gạch nối giữa bạn với chân lý, và nhờ bạn có quan hệ mật thiết với thầy, nên nhìn gương mặt thầy bạn có thể được cảm hứng và nhớ đến Phật tính của bạn.

    Nhiều người đã có được liên hệ đặc biệt với bức tranh của tượng đức Padmasambhava gọi là “Trông giống tôi,” bức tượng được tạc lúc sinh thời của ngài và được ngài ban phép vào thế kỷ thứ tám ở Tây Tạng. Padmasambhava, bằng năng lực tâm linh khổng lồ của ngài đã đưa giáo lý Phật vào Tây Tạng.

    Ngài được xem là vị Phật thứ hai, và được dân Tây Tạng gọi một cách âu yếm là “Thầy Rinpoche” hay “Bậc thầy quý báu.” Dilgo Khientse Rinpoche nói:

    - Trên đất Ấn và Tây Tạng, đã từng có nhiều bậc thầy tuyệt luân, nhưng người có công bi mẫn lớn lao nhất, người nhiều ân đức với hữu tình trong thời đại khó khăn này, chính là Padmasambhava, người tượng trưng từ bi và trí tuệ của tất cả chư Phật. Một trong những đức của ngài là, ngài ban phúc ngay lập tức cho ai cầu khẩn ngài, và bất cứ gì ta cầu xin, ngài đều có năng lực làm ta toại nguyện tức khắc.

    Khi được cảm hứng từ điều này, thì bạn hãy gắn một tấm hình của bức tượng ngài ngang tầm mắt bạn, rồi hướng sự chú ý của bạn đến gương mặt ngài, nhất là tia nhìn nơi đôi mắt. Có niềm an tịnh sâu xa trong cái nhìn ấy, như đang phóng ra từ bức tranh để đưa bạn đi vào một trạng thái tỉnh giác không bám víu, trạng thái thiền định. Rồi bạn để yên cho tâm bạn an nghỉ cùng với Padmasambhava.

    3. Nhẩm đọc một thần chú.

    Một kỹ thuật thứ ba được sử dụng rất nhiều trong Phật giáo Tây Tạng (và cả trong đạo Sufism, Ki tô giáo chính thống, và Ấn giáo), là hợp nhất tâm bạn với âm thanh của một bài chú. Định nghĩa của mantra là “cái che chở tâm.” Cái che chở tâm khỏi tính tiêu cực, hay che chở bạn khỏi tâm bạn, gọi là mantra.

    Khi bạn đang nóng nảy, mất hướng đi, hoặc cảm thấy yếu đuối tình cảm, thì tụng đọc thần chú có thể thay đổi hoàn toàn tâm thái của bạn bằng cách thay đổi năng lực và bầu khí hậu của nó. Việc này xảy ra được bằng cách nào? Thần chú là tinh túy của âm thanh, và là hiện thân của chân lý qua hình thức âm thanh. Mỗi âm đều thấm nhuần năng lực tâm linh, cô đọng một sự thật về tâm linh, và rung động với ân đức của Lời chư Phật. Người ta bảo rằng tâm cỡi trên Prana hay Khí lực, khí này di chuyển khắp cơ thể và thanh lọc những huyệt đạo vi tế. Bởi thế khi đọc chú, là bạn đang chở đầy năng lực của thần chú trong hơi thở và khí lực của mình, tác động trực tiếp trên tâm và thân vi tế.

    Câu chú tôi khuyên các học trò tôi đọc là:

    - OM AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUM

    (Người Tây Tạng nói:

    Om Ah Hung Benzaa Guru Péma Siddhi Hung)

    Là thần chú của Padmasambhava, của tất cả chư Phật, các bậc thầy và những bậc đã chứng ngộ, bởi thế rất có mãnh lực đem lại bình an, chữa bệnh, chuyển hóa và che chở người ta trong thời đại hỗn độn bạo hành này. Hãy lặng lẽ đọc câu chú với sự chú tâm sâu xa, và để hơi thở, câu chú và sự tỉnh thức của bạn dần trở thành một. Hoặc tụng nó lên một cách hứng khởi, rồi an trú trong sự im lặng bao la đôi khi tiếp theo sau đó.

    Mặc dù suốt đời quen thuộc với sự thực hành này, tôi vẫn còn đôi lúc kinh ngạc bởi năng lực của thần chú. Vài năm trước, khi tôi đang hướng dẫn một thiền hội gồm ba trăm người ở Lyon, Pháp, phần đông là những bà nội trợ và những nhà chữa tâm bệnh. Tôi đã giảng dạy suốt ngày, nhưng họ dường như muốn tận dụng khoản thời gian ở gần tôi, nên cứ tiếp tục hỏi hết câu này tới câu khác không ngừng. Cuối ngày thì tôi hoàn toàn kiệt sức, một bầu không khí nặng nề tẻ nhạt lan khắp phòng. Bởi thế tôi tụng lên bài chú nói trên. Tôi kinh ngạc trước hiệu quả: Trong vài phút tôi cảm thấy năng lực được phục hồi, bầu khí quanh chúng tôi thay đổi, và toàn thể thính giả trở lại tươi sáng say mê. Tôi vẫn thường có kinh nghiệm ấy nhiều lần, nên tôi biết không phải chỉ là một “phép lạ” tình cờ.



    Thanh thanh thúy trúc, tổng thị Pháp thân,
    Uất uất huỳnh hoa, vô phi Bát Nhã

  4. The Following User Says Thank You to choconxauxi For This Useful Post:

    hoatihon (10-30-2015)

  5. #44
    Avatar của choconxauxi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    471
    Thanks
    388
    Thanked 317 Times in 168 Posts


    TÂM TRONG THIỀN ĐỊNH


    Vậy, ta nên làm gì với tâm ta trong thiền định? Không gì cả. Cứ để mặc nó như nó là. Một bậc thầy mô tả thiền định là “Tâm lơ lửng trong không, không ở đâu.”

    Có một câu nói nổi tiếng:

    - Nếu tâm không bị gượng ép, thì nó tự nhjiên đầy hỉ lạc, cũng như nước, khi không bị quấy động thì tự nhiên trong suốt.

    Tôi thường so sánh tâm thiền với một chun nước bùn: Ta càng để yên đừng khuấy động nước lên, thì những phân tử bụi càng chìm xuống đáy, làm cho tính trong sáng tự nhiên của nước chiếu suốt đáy. Tính tự nhiên của tâm là nếu bạn để nó trong trạng thái đừng thay đổi, thì nó sẽ tìm thấy tính tự nhiên chân thực của nó, hỉ lạc và trong sáng.

    Bởi vậy cẩn thận đừng áp đặt lên tâm bạn một cái gì. Khi thiền định, không được có nỗ lực để kiểm soát, không cố để được an. Đừng quá quan trọng cảm thấy mình đang làm một lễ lạc gì đặc biệt; hãy buông xả ngay cả cái ý niệm rằng bạn đang thiền. Hãy để thân bạn tự nhiên, hơi thở tự nhiên. Tưởng về bạn như bầu trời, bao trùm tất cả vũ trụ.



    Thanh thanh thúy trúc, tổng thị Pháp thân,
    Uất uất huỳnh hoa, vô phi Bát Nhã

  6. #45
    Avatar của choconxauxi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    471
    Thanks
    388
    Thanked 317 Times in 168 Posts


    QUÂN BÌNH TẾ NHỊ


    Trong thiền định cũng như trong mọi nghệ thuật, cần có một quân bình tế nhị giữa thư giãn và bén nhạy.

    Một lần, một tu sĩ tên Shrona học thiền với một trong những đệ tử gần nhất của Phật. Ông đang gặp khó khăn trong việc để tâm như thế nào. Ông có hết sức để tập trung, làm cho ông bị nhức đầu. Rồi khi buông tâm ra, thì buông quá độ nên ông buồn ngủ. Cuối cùng ông phải tới cầu xin Bụt giúp đỡ. Biết ông ta đã từng là nhạc công nổi tiếng lúc còn tại gia, Bụt hỏi:

    - Có phải ông đã từng chơi đàn lúc còn là cư sĩ không?

    Shrona thưa vâng. Bụt hỏi:

    - Ông làm sao để gãy ra tiếng hay nhất? Đó là lúc dây đàn thật căng, hay lúc dây thật chùng?

    - Bạch Thế tôn, không quá căng cũng không quá chùng mới được.

    - Vậy, với tâm ông cũng như thế đó.

    Ma Chik Lap Dron, một trong những bậc nữ đạo sư của Tây Tạng, nói:

    - Tỉnh, tỉnh, mà buông, buông. Đây là điểm cốt yếu trong thiền để có Tri kiến.

    Hãy khơi dậy sự tỉnh giác, nhưng đồng thời buông xả, xả cho đến độ bạn không bám vào một ý niệm về buông xả.



    Thanh thanh thúy trúc, tổng thị Pháp thân,
    Uất uất huỳnh hoa, vô phi Bát Nhã

  7. #46
    Avatar của choconxauxi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    471
    Thanks
    388
    Thanked 317 Times in 168 Posts


    Ý TƯỞNG VÀ CẢM XÚC: SÓNG VÀ ĐẠI DƯƠNG


    Khi bắt đầu thiền, người ta thường nói những ý tưởng của họ nổi loạn, và trở nên ồn ào hơn bao giờ hết. Nhưng tôi trấn an họ rằng, đó là dấu hiệu tốt. Nó chứng tỏ bạn đã trở nên an tịnh hơn, nên mới ý thức được sự ồn ào của những ý tưởng trong tâm bạn. Bạn không nên nản chí bỏ cuộc. Dù khởi lên ý niệm gì, hãy để tâm bạn tỉnh thức, kéo tâm về hơi thở, ngay dù nó đang tán loạn.

    Trong những chỉ dẫn về thiền ngày xưa, thường nói rằng lúc đầu những ý tưởng kéo đến té nhào lên nhau không gián đoạn, như thác đổ trên núi xuống. Dần dần, khi bạn hoàn hảo về thiền, thì ý tưởng như nước trong vực sâu, rồi như dòng sông lớn chảy ra biển, chỉ thỉnh thoảng có sống gợn lăn tăn.

    Đôi khi người ta nghĩ rằng khi thiền định, họ không được có ý tưởng cảm xúc nào cả, nên khi chúng khởi lên, họ đâm ra bực bội cáu tiết với chính họ, vì tưởng mình thất bại. Thật không gì sai sự thật hơn. Tây Tạng có câu: “Đấy cũng như đòi thịt đừng có xương, đòi trà đừng có lá.” Bao lâu bạn còn tâm là còn có ý tưởng và cảm xúc.

    Cũng như đại dương có sóng, mặt trời có tia, những tia sáng của tâm bạn chính là những ý tưởng và cảm xúc. Biển có sóng, nhưng nó không phiền hà gì về những ngọn sóng. Sóng chính là bản tính của biển. Sóng sẽ nổi lên, nhưng sẽ đi về đâu? Trở về đại dương. Và những con sóng ấy từ đâu đến? Từ đại dương. Cũng thế, ý tưởng và cảm xúc là những tia sáng và biểu hiện của chính tự tính của tâm. Chúng nổi lên từ tâm, nhưng chúng tan biến đi đâu? Cũng tan trở về tâm. Dù ý tưởng gì khởi lên, cũng đừng xem nó như một vấn đề trọng đại. Nếu bạn không phản kháng một cách ồn ào, nếu bạn cứ kiên nhẫn, thì nó sẽ lại trở về trong tự tính của nó.

    Khi bạn hiểu được như vậy, thì những ý tưởng khởi lên chỉ làm tăng tiến việc thực tập thiền định của bạn. Mà nếu không hiểu như vậy, thì chúng lại trở thành hạt giống của mê mờ. Vậy hãy có một thái độ cởi mở từ bi đối với chúng, vì những ý tưởng ấy đều là gia đình của tâm bạn. Bạn hãy xử với chúng “như một ông già minh triết nhìn đứa trẻ đang chơi,” như Dudjom Rinpoche đã nói.

    Chúng ta thường không biết làm sao với tính tiêu cực hay vài cảm xúc rầy rà. Trong tính khoáng đạt của thiền định, bạn có thể nhìn những ý tưởng và cảm xúc bạn với một thái độ hoàn toàn cởi mở không thành kiến. Khi thái độ của bạn thay đổi, thì toàn thể không khí của tâm bạn cũng thay đổi, cả đến bản chất của những tư tưởng và cảm xúc bạn. Khi bạn trở nên dễ chịu hơn, thì chúng cũng dễ chịu hơn; nếu bạn không khó khăn với chúng, thì chúng cũng không khó khăn với bạn.

    Bởi thế, dù tư tưởng cảm xúc nào khởi lên, hãy để cho chúng lên xuống như sóng biển. Bất cứ gì bạn thấy mình đang nghĩ tới, hãy để cho ý nghĩ ấy tự sinh tự diệt không một gượng ép nào. Đừng nắm bắt nó, nuôi dưỡng nó, chạy theo nó; đứng bám lấy nó và củng cố nó. Không theo dõi những vọng tưởng, cũng không mời gọi chúng, bạn hãy giống như biển nhìn những làn sóng của nó, hay như bầu trời nhìn những đám mây bay qua nó.

    Bạn sẽ thấy rằng những ý tưởng như cơn gió, chúng đến và đi. Bí quyết là đừng “nghĩ” về chúng, mà để cho chúng tuôn chảy qua tâm, đồng thời giữ cho tâm bạn thoát khỏi những “hậu” ý tưởng.

    Trong tâm thường ngày, ta nhận thấy dòng tư tưởng như là liên tục; song kỳ thực không phải vậy. Bạn sẽ khám phá cho chính bạn rằng có một khoảng hở giữa hai ý tưởng. Khi niệm quá khứ đã qua, thì niệm tương lai chưa đến. Bạn sẽ luôn luôn tìm thấy một khe hở trong đó Rigpa, tự tính của tâm, làm hiển lộ. Vậy, công việc của thiền định là làm chậm lại dòng tư tưởng, để cho khoảng hở ấy trở thành rõ rệt hơn.

    Thầy tôi có một người học trò tên Apa Pant, một nhà ngoại đạo Ấn, một tác giả, người đã làm đại sứ Ấn ở nhiều thủ đô khắp thế giới. Ông ta đã từng làm đại diện cho chính phủ Ấn tại Tây Tạng ở Lhasa, và có một thời gian ông làm đại diện ở Sikkim. Ông cũng là một thiền giả và người thực hành yoga, và mỗi lần gặp thầy tôi, ông đều hỏi làm sao để thiền. Ông đang theo một truyền thống Đông phương, trong đó người học cứ hỏi đi hỏi lại vị thầy một câu hỏi căn bản thật nhiều lần.

    Apa Pant kể cho tôi nghe chuyện này. Một hôm thầy tôi Jamyang Khientse đang ngắm một màn vũ của các Lama trước Chùa Cung điện ở Gangtok, thủ đô Sikkim, đang khúc khích xem một người hề làm trò giữa hai màn vũ. Apa Pant cứ hỏi đi hỏi lại mãi cái câu làm thế nào để thiền định, bởi thế thầy tôi cho ông biết thầy trả lời ông ta một lần chót:

    - Xem, nó giống như thế này: Khi ý tưởng quá khứ đã qua, mà ý tưởng vị lai chưa đến, có phải có một khoảng hở không?

    Apa Pant đáp:

    - Vâng.

    Thầy tôi nói:

    - Đấy, hãy kéo dài nó ra: Đó là thiền định.



    Thanh thanh thúy trúc, tổng thị Pháp thân,
    Uất uất huỳnh hoa, vô phi Bát Nhã

  8. #47
    Avatar của choconxauxi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    471
    Thanks
    388
    Thanked 317 Times in 168 Posts


    KINH NGHIỆM


    Khi bạn tiếp tục thực hành, bạn có thể có đủ thứ kinh nghiệm tốt cũng như xấu. Như một cái phòng có nhiều cửa sổ cửa lớn để cho không khí ùa vào từ mọi phía, cũng thế khi tâm bạn mở ra, thì tự nhiên mọi kinh nghiệm có thể vào trong tâm. Bạn có thể kinh quá những trạng thái hỉ lạc, sáng suốt, hay dứt mọi tư tưởng. Có thể nói đấy là những kinh nghiệm tốt, những dấu hiệu của sự tiến bộ trong thiền. Vì khi bạn có hỉ lạc, ấy là dấu hiệu dục vọng tạm thời lắng xuống. Khi bạn cảm thấy sáng suốt, là dấu hiệu sân giận tạm ngừng. Khi bạn kinh quá sự vắng bóng tư tưởng, là dấu hiệu vô minh tạm diệt. Tự bản chất, chúng là kinh nghiệm tốt, nhưng nếu bạn bám víu chúng thì chúng trở thành những chướng ngại. Kinh nghiệm tự chúng không phải là chứng ngộ, nhưng nếu ta thoát khỏi chấp thủ vào chúng, thì chúng là những nguyên liệu để chứng ngộ.

    Những kinh nghiệm tiêu cực thường bị lầm nhất, vì người ta dễ xem chúng như dấu hiệu xấu. Nhưng kỳ thực chúng là những ân sủng trá hình. Hãy cố đừng phản ứng lại với sự chán ghét như bạn thường làm, mà thay vì thế, hãy nhận chân chúng chỉ là những kinh nghiệm, như huyễn như mộng. Sự nhận ra thực tính của kinh nghiệm sẽ giải thoát bạn khỏi tai hại nguy hiểm của nó, và do vậy ngay cả một kinh nghiệm xấu có thể trở thành một nguồn ân sủng và thành tựu lớn lao. Có rất nhiều câu chuyện về những bậc thầy đã làm việc như vậy với những kinh nghiệm xấu và đã chuyển hóa chúng thành chất xúc tác cho sự chứng ngộ.

    Theo truyền thống, người ta bảo rằng đối với một hành giả thực thụ, thì không phải nhưng kinh nghiệm xấu, mà chính những kinh nghiệm tốt mới gây ra chướng ngại. Khi mọi sự tiến hành tốt đẹp, bạn phải đặc biệt cẩn thận để khỏi đâm ra tự mãn hay quá tin. Nhớ lại Dudjom Rinpoche đã bảo tôi khi tôi gặp một kinh nghiệm rất mãnh liệt:

    - Đừng quá náo nức. Cuối cùng, nó không tốt cũng không xấu.

    Thầy biết tôi đang bám víu kinh nghiệm: Chính sự bám víu ấy phải được cắt đứt, như bất cứ sự bám víu nào khác. Điều chúng ta cần học trong thiền định cũng như trong cuộc đời, là giải thoát chấp thủ đối với những kinh nghiệm tốt, và giải thoát sự chán ghét đối với những kinh nghiệm xấu.

    Dudjom Rinpoche cảnh cáo chúng ta một cái bẫy khác:

    - Ngược lại, trong khi hành thiền, bạn có thể kinh quá một cảm giác bồng bềnh nửa tỉnh nửa mê, như là có cái mồng trên đầu bạn, một trạng thái chán chường mơ mộng. Đây chỉ là một tình trạng ứ đọng vô tâm. Làm sao bạn ra khỏi tình trạng ấy? Hãy thức tỉnh bạn, thẳng người lại, thở mạnh cho thán khí ra khỏi buồng phổi, và hướng sự tỉnh giác của bạn vào khoảng không gian trong sáng để làm tâm bạn tươi tỉnh lại. Nếu ở lại trong trạng thái tù đọng ấy, bạn sẽ không tiến bộ; bởi thế mỗi khi sự thụt lùi này xảy ra, thì bạn hãy xua tan nó nhiều lần. Điều quan trọng là bạn hãy thật tỉnh táo canh chừng.

    Bất cứ phương pháp nào bạn sử dụng, hãy bỏ nó, hay để nó tự tan rã, khi bạn thấy mình đã đạt tới một trạng thái bén nhạy, rộng rãi, và bình an. Rồi tiếp tục an trú trong đó lặng lẽ không xao lãng, không cần dùng một phương pháp đặc biệt nào. Phương pháp đã làm tròn mục đích của nó. Tuy nhiên, nếu bạn trở nên phân tán, thì hãy trở lại sử dụng bất cứ kỹ thuật nào thích hợp để gọi tâm bạn trở lại.

    Vinh quang thực sự của thiền định không nằm ở phương pháp, mà ở cái kinh nghiệm liên tục về sự tỉnh giác, sự hỉ lạc, sáng suốt, bình an, và quan trọng hơn cả là hoàn toàn vắng bóng chấp thủ. Sự giảm bớt chấp thủ trong chính bạn là dấu hiệu chứng tỏ bạn đang dần thoát khỏi chính mình.

    Và bạn càng kinh quá sự giải thoát này, thì càng chứng tỏ cái ngã và những hy vọng sợ hãi đã nuôi dưỡng nó, đang tan rã, và bạn càng tiến gần hơn đến trí tuệ vô ngã. Khi bạn ở trong cái nhà trí tuệ ấy, bạn sẽ không còn thấy một rào ngăn nào giữa tôi và anh, tự và tha, trong và ngoài; cuối cùng bạn đã trở về ngôi nhà chân thực, nghĩa là trạng thái bất nhị.



    Thanh thanh thúy trúc, tổng thị Pháp thân,
    Uất uất huỳnh hoa, vô phi Bát Nhã

  9. #48
    Avatar của choconxauxi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    471
    Thanks
    388
    Thanked 317 Times in 168 Posts


    NGHỈ NGƠI


    Phần nhiều người ta hỏi:

    - Tôi nên ngồi thiền bao nhiêu lâu? Lúc nào? Tôi có nên thực tập hai mươi phút sáng chiều, hay nên làm thành nhiều thời ngắn hơn trong ngày?

    Vâng, nên ngồi trong hai mươi phút, mặc dù không muốn nói mức giới hạn là hai mươi phút. Trong kinh điển tôi chưa từng thấy ở đâu nói hai mươi phút; có lẽ đấy là một quan niệm mới bày đặt ra ở phương Tây, mà tôi gọi là “Thời hạn Thiền theo tiêu chuẩn Tây phương.” Vấn đề không phải là bạn phải ngồi bao lâu, mà vấn đề là sự hành thiền có thực sự đem lại cho bạn một trạng thái tỉnh thức và hiện trú hay không, một trạng thái trong đó bạn hơi cởi mở và có thể liên lạc với bản tâm của bạn. Và năm phút ngồi thiền tỉnh táo có giá trị hơn nhiều so với hai mươi phút ngủ gà ngủ gật!

    Dudjom Rinpoche thường nói một người mới tập nên tập từng thời ngắn. Hãy thực tập chừng bốn năm phút, rồi nghỉ ngơi chỉ chừng một phút. Trong khi nghỉ thì buông phương pháp ra, nhưng đừng buông hoàn toàn cái tâm tỉnh giác của bạn. Đôi khi, lúc bạn đang phấn đấu nỗ lực để thiền, thì kỳ lạ thay, vào đúng cái lúc bạn nghỉ ngơi không dùng phương pháp – mà nếu bạn vẫn duy trì tỉnh giác và hiện trú, – thiền định mới thực sự xảy ra. Đấy là lý do sự nghỉ ngơi cũng là một phần của thiền định, quan trọng như chính lúc ngồi. Tôi thường bảo những học trò nào gặp khó khăn trong khi thực tập, hãy tu tập trong lúc nghỉ ngơi và nghỉ ngơi trong lúc tu tập.

    Hãy ngồi một thời ngắn, rồi nghỉ chứng ba mươi giây hay một phút. Nhưng trong lúc ấy hãy tỉnh giác đối với mọi sự bạn làm, mà đừng đánh mất sự hiện trú của bạn, sự thoải mái tự nhiên của nó. Rồi làm cho bạn tỉnh táo ra, và ngồi tiếp. Nếu bạn tập nhiều thời ngắn như thế, những thời nghỉ ngơi của bạn thường làm cho thiền của bạn thực hơn, gợi cảm hứng nhiều hơn, tẩy trừ sự cứng đơ, tính trịnh trọng và mất tự nhiên của sự tu tập, và đem lại cho bạn nhiều chú tâm và thoải mái hơn. Dần dần, qua sự xen kẽ giữa thực tập và nghỉ ngơi như thế, cái hàng rào ngăn giữa đời sống thường ngày và thiền định sẽ sụp đổ, sự tương phản tiêu tan, và bạn sẽ thấy mình càng ngày càng ở trong trạng thái tỉnh giác hiện trú một cách tự nhiên không phân tán. Khi ấy, như Dudjom Rinpoche thường nói:

    - Dù cho người thiền định từ bỏ thiền, mà thiền không bao giờ rời khỏi người.



    Thanh thanh thúy trúc, tổng thị Pháp thân,
    Uất uất huỳnh hoa, vô phi Bát Nhã

  10. #49
    Avatar của choconxauxi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    471
    Thanks
    388
    Thanked 317 Times in 168 Posts


    HÒA NHẬP THIỀN VỚI HÀNH ĐỘNG


    Tôi đã thấy rằng phần lớn những hành giả tâm linh ngày nay thiếu tri thức để hội nhập đời sống hàng ngày của họ với thiền định. Tôi không biết làm sao để nhấn mạnh điều này: Hội nhập thiền vào hành động chính là tất cả nền tảng, lý do và mục tiêu của thiền định. Sự bạo động, căng thẳng, những thử thách và xao lãng của đời sống tân tiến làm cho sự hội nhập này càng thêm khẩn thiết hơn nữa.

    Có người phàn nàn với tôi:

    - Tôi đã thiền mười hai năm, những vẫn chứng nào tật ấy. Tôi không thay đổi, tại sao?

    Tại vì có một hố sâu giữa hành thiền của họ với đời sống hàng ngày. Họ dường như hiện hữu trên hai thế giới tách biệt, thế giới này không giúp gì cho kia. Tôi lại nhớ một thầy giáo hồi tôi còn đi học ở Tây Tạng. Ông ta giảng quy luật văn phạm rất xuất sắc, nhưng không bao giờ viết đúng được một câu nào.

    Thế thì làm sao chúng ta có được sự hội nhập giữa đời sống hàng ngày với tư thái bình tĩnh, buông xả rộng rãi của thiền định? Không gì bằng thực tập thường xuyên, chỉ nhờ thực tập thường xuyên ta mới bắt đầu nếm được một cách không gián đoạn sự an tĩnh của tự tính ta, và có thể duy trì kinh nghiệm ấy trong đời sống hàng ngày.

    Tôi luôn luôn bảo học trò tôi đừng xuất thiền quá nhanh: Hãy để vài phút cho niềm an lạc của sự hành thiền len lỏi vào đời bạn.

    Thầy Dudjom Rinpoche tôi nói:

    - Đừng nhảy lên bỏ chạy, mà hòa tâm tỉnh giác của bạn với đời sống hàng ngày. Hãy giống như người bị nứt sọ, luôn luôn cẩn thận canh chừng để người khác khỏi đụng vào mình.

    Rồi sau thời thiền định, điều quan trọng là đừng đầu hàng cái khuynh hướng củng cố lối nhận thức của ta đối với sự vật. Khi bạn vào lại đời sống hàng ngày, hãy để cho tuệ giác, tri kiến, lòng bi mẫn, tính khí, sự khoáng đạt và giải thoát mà thiền đã đem lại cho bạn, thể nhập trong kinh nghiệm hàng ngày. Thiền khơi dậy trong bạn cái nhận thức vạn pháp đều huyễn hóa, như mộng; bạn hãy duy trì nhận thức ấy ngay trong lòng sinh tử. Một bậc thầy vĩ đại đã nói:

    - Sau khi thực tập thiền định, người ta phải trở thành một đứa con của huyễn hóa.

    Dudjom Rinpoche khuyên:

    - Mặc dù mọi sự đều như mộng, huyễn hóa, bạn vẫn tiếp tục làm việc với thái độ hài hước. Chẳng hạn, nếu bạn đang đi dạo, hãy bước về khoảng trống khoáng đạt của chân lý. Khi ngồi, bạn hãy là thành trì của chân lý. Khi ăn, bạn hãy cho những thói tiêu cực và ảo tưởng của bạn vào trong cái bụng của chân-không. Và khi đi cầu, hãy xem những chướng ngại đang được tẩy sạch.

    Vậy, điều quan trọng không phải chỉ là ngồi, mà chính là trạng thái tâm của bạn sau thời thiền. Chính cái tâm trạng an tĩnh tập trung ấy, bạn hãy đưa nó vào trong mọi sự bạn làm. Tôi rất thích câu chuyện thiền trong đó môn đệ hỏi bậc thầy:

    - Bạch thầy, làm sao ta đưa giác ngộ vào trong hành động? Làm sao ta thực hành thiền trong đời sống?

    Vị thầy đáp:

    - Bằng cách ăn, ngủ.

    - Nhưng bạch thầy, ăn ngủ thì ai cũng ăn ngủ.

    - Nhưng không phải ai cũng thực ăn lúc họ ăn, thực ngủ lúc họ ngủ.

    Từ đấy có thiền ngữ nổi tiếng:

    - Khi ăn, ta ăn; khi ngủ, ta ngủ.

    Ăn khi bạn ăn và ngủ khi bạn ngủ có nghĩa là hoàn toàn hiện trú trong tất cả hành động của bạn, không có những sự phân tán của bản ngã xen vào. Đấy là hội nhập.

    Và nếu bạn thực sự mong muốn hoàn thành việc này, điều cần yếu không phải là chỉ tập thiền thỉnh thoảng như uống thuốc trị bệnh, mà phải như ăn cơm bữa. Bởi vậy, một cách tuyệt hảo để phát triển khả năng hội nhập này, là đầu tiên hãy thực tập thiền trong một khung cảnh nhập thất, xa hẳn những căng thẳng của sinh hoạt đô thị ngày nay.

    Người ta rất thường đến với thiền với hy vọng có những kết quả phi thường, như linh kiến, ánh sáng, hay một vài phép lạ siêu nhiên. Khi không có điều gì như vậy xảy ra, thì họ hết sức thất vọng. Nhưng phép lạ thực sự của thiền định lại “thuờng” hơn, và hữu ích hơn nhiều. Đấy là một sự chuyển hóa tế nhị, không chỉ xảy ra trong tâm bạn, cảm xúc bạn, mà thực sự cả trong thân bạn. Nó chữa lành. Những bác sĩ và nhà khoa học đã khám phá rằng khi bạn vui vẻ, thì những tế bào trong cơ thể bạn còn vui vẻ hơn, nhưng khi tâm bạn ở trong trạng thái tiêu cực, thì những tế bào của bạn có thể trở thành ác tính. Toàn thể tình trạng sức khỏe bạn, có quan hệ mật thiết đến trạng thái tâm bạn và lối sống của bạn.



    Thanh thanh thúy trúc, tổng thị Pháp thân,
    Uất uất huỳnh hoa, vô phi Bát Nhã

  11. #50
    Avatar của choconxauxi
    Tham gia ngày
    May 2015
    Bài gửi
    471
    Thanks
    388
    Thanked 317 Times in 168 Posts


    NGUỒN CẢM HỨNG


    Tôi đã nói rằng thiền định là con đường đưa đến giác ngộ và là nỗ lực lớn lao nhất của đời này. Mỗi khi nói về thiền định cho sinh viên, tôi luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải thực hành thiền với một kỷ luật quyết định và sự sùng kính nhất tâm; đồng thời, cũng rất quan trọng là thực hành thiền với cảm hứng và tinh thần sáng tạo càng nhiều càng tốt. Có thể nói thiền là một nghệ thuật, và bạn nên tập thiền định với niềm hứng thú và giàu tính phát minh của một nghệ sĩ.

    Hãy hăng hái đi vào sự an lạc của bạn như bạn đang cạnh tranh điên cuồng trong cuộc đời. Có nhiều cách đề làm cho thiền định trở thành một niềm vui. Bạn có thể tìm một bản nhạc ưa thích, và dùng nó để mở tâm trí bạn. Bạn có thể sưu tập thi ca, trích dẫn lời thánh nhân động đến tâm can bạn, và giữ chúng bên mình để làm bạn lên tinh thần. Tôi luôn luôn thích những bức tranh cổ thangka của Tây Tạng, vẻ đẹp của chúng làm cho tôi thêm năng lực. Bạn cũng có thể tìm những bức tranh gợi cho bạn cảm giác thiêng liêng, và treo lên tường phòng bạn. Lắng nghe băng giảng của một vị thầy vĩ đại, hoặc nghe tán tụng. Bạn có thể biến chỗ bạn ngồi thiền thành một thiên đường giản dị, với một đóa hoa, một cây hương, một ngón nến, một bức ảnh của bậc thầy đã giác ngộ, hay một tượng Phật. bạn có thể biến gian phòng thường nhất thành một nơi thiêng liêng ấm cúng, một khung cảnh mà mỗi ngày bạn đến gặp bản ngã đích thực của bạn với tất cả niềm vui và hạnh phúc như gặp bạn cố tri. Và nếu bạn nhận thấy thiền định không dễ dàng xảy đến trong phòng bạn ở đô thị, thì hãy ra ngoài thiên nhiên. Thiên nhiên luôn luôn là một nguồn cảm hứng bất tận. Muốn an tâm, bạn hãy đi dạo vào lúc bình minh trong công viên, hay ngắm sương mai trên một đóa hồng trong vườn. Nằm giữa đất mà ngắm nhìn bầu trời, để tâm bạn trải ra trong cái bao la đó. Hãy để cho bầu trời bên ngoài đánh thức bầu trời trong tâm bạn. Đứng bên dòng suối mà hòa tâm bạn vào tiếng nước chảy, ngồi bên thác đổ, để cho tiếng cười trong sáng của nó tịnh hóa tâm hồn bạn. Đi dạo trên bãi biển và hứng đầy gió biển trên mặt bạn. Mừng ánh trăng sáng để cho vẻ đẹp của trăng làm lắng tâm bạn. Ngồi trên hồ hay trong vườn, thở lặng lẽ, để tâm bạn im lặng khi trăng từ từ lên tráng lệ trong bầu trời không mây. Mọi sự đều có thể dùng làm sự mời gọi thiền định. Một nụ cười, một gương mặt trên tàu hầm, một cánh hoa mọc trong khe đá bên vệ đường, một tấm vải sặc sỡ treo trong cửa tiệm, ánh trời chiếu trên chậu hoa nơi cửa sổ. Hãy nhạy bén đối với mọi dấu hiệu của cái đẹp và vẻ diễm kiều. Dâng lên mọi niềm vui, tỉnh giác vào mọi lúc, trước “những tin tức luôn luôn đến từ im lặng.”

    Dần dà bạn sẽ là người làm chủ lấy hạnh phúc của mình, tạo ra niềm vui cho chính mình, có đủ mọi phương pháp để thắp sáng, nâng cao, gợi cảm hứng cho từng hơi thở và động tác của mình. Thế nào là một thiền giả vĩ đại? Đó là người luôn luôn sống với sự hiện diện của cái tự ngã chân thực của mình, đã tìm ra và sử dụng liên tục suối nguồn của cảm hứng sâu xa.



    Thanh thanh thúy trúc, tổng thị Pháp thân,
    Uất uất huỳnh hoa, vô phi Bát Nhã

  12. The Following User Says Thank You to choconxauxi For This Useful Post:

    nguoidien (10-31-2015)

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 2 người đọc bài này. (0 thành viên và 2 khách)

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •