PDA

Xem phiên bản đầy đủ : Ngài Phó Đại Sĩ



choconxauxi
07-12-2016, 09:23 AM
Ngài Phó Đại Sĩ

(Hóa thân đức Di Lặc Bồ Tát)


------ o o 0 o o ------


http://i854.photobucket.com/albums/ab102/cunconmocoi/pho%20dai%20si_zpswr9lh8cs.jpg


Phó Đại sĩ (497-569), còn gọi Phó Hấp hay Đại sĩ Thiện Huệ, người Vụ Châu Nghĩa Ô. Mười sáu tuổi cưới vợ là Lưu Diệu Quang, sinh được hai người con, một tên Phổ Kiện, một tên Phổ Thành. Năm hai mươi bốn tuổi được diện kiến Tăng Thiên Trúc là Tung đầu-đà (tức Đạt Ma Đại sư). Tung đầu-đà nói với ngài rằng: “Xưa, ta với ông cùng sống vào thời Đức Phật Tỳ Bà Thi (Đức Phật đầu tiên trong bảy Đức Phật quá khứ) đã từng phát nguyện tu hành, trên cung trời Đâu Suất vẫn còn giữ y bát của ta và ông, ông vì sao lại quên hết?”. Đại sĩ nghe nói ngẩn người và không biết nói gì. Thế rồi, Tung đầu-đà dạy ngài đến suối nhìn bóng. Ngài theo lời dạy thực hành, quả nhiên được tướng lành là trên đầu có vầng hào quang che phủ. Nhân đây ngài ngộ được duyên xưa. Ngài cười nói với Tung đầu-đà rằng: “Lò rèn còn nhiều sắt thô, trước cửa nhà thầy thuốc đầy bệnh nhân”. Ý lời nói này là ngài muốn lưu lại thế gian để hóa độ chúng sinh, không nghĩ đến việc sinh về cõi Trời.

Sau khi ngộ được túc duyên, Đại sĩ hỏi Tung đầu-đà nơi nào có thể nương náu tu hành, Tung đầu-đà chỉ đỉnh núi tùng nói: “Nơi ấy có thể yên tu”. Bấy giờ, ngài xây thất làm chùa, đây là ngôi chùa Song Lâm sau này. Ngài đích thân làm việc. Ngày thì lao động, tối đến tu hành, như thế trải qua bảy mùa tu luyện. Một hôm đang nhập định, thấy ba Đức Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, Phật Định Quang phóng hào quang đến trên thân của ngài, và ngài tự cho đã chứng được đại định Thủ Lăng Nghiêm. Từ đó, ngài tự xưng là “Song Lâm Thọ Hạ Đương Lai Giải Thoát Thiện Huệ Đại sĩ”, vì chúng nhân giảng nói Phật pháp. Thính chúng đến nghe pháp rất đông, đầy đủ tứ chúng, quận thú Vương Kiệt nơi địa phương ấy cho là ngài đem lời hoang đường mê hoặc mọi người, liền bắt giam cầm. Ở trong ngục mười mấy hôm, ngài không ăn không uống, khiến Vương Kiệt cảm động, sai người thả tự do. Ngài trở về núi và giảng pháp càng nhiều, tiếng đồn ngày càng tăng.

Đại sĩ không chỉ vì mọi người giảng nói Phật pháp, mà còn chú trọng giải quyết những khó khăn thực tế trong đời sống của nhân dân, quên mình vì người. Ngài đem hết tài sản của gia đình ra bố thí cho dân nghèo, lại gặp năm mất mùa, vì để cứu tai họa cho dân, ngài bán luôn cả vợ con. Những điều này thực tế rất hiếm thấy trong lịch sử, đã thể hiện tinh thần tự lợi lợi tha, và tâm cảnh từ bi bình đẳng không hai của Đại sĩ.

Đời Lương, niên hiệu Đại Thông thứ sáu (534), Đại sĩ phái đệ tử là Phó Vãng dâng thư lên Lương Võ đế, nội dung trình bày gồm có ba điều thiện bậc thượng, trung, hạ, hy vọng Võ đế tiếp nhận tinh thần của thư. Thư rằng: “Điều thiện bậc thượng, lấy lòng rỗng rang làm gốc, chẳng chấp làm tông, vô tướng làm nhân, Niết bàn làm quả; điều thiện bậc trung, lấy việc trị thân làm gốc, trị nước làm tông, được quả báo an lạc trong cõi trời người; điều thiện bậc hạ lấy việc hộ mạng chúng sinh, bỏ việc giết hại, dạy khắp bá tánh thọ trì lục trai”. Khi ấy, có vị Tăng nhân đương thời là quốc sư dâng thư lên Hoàng đế, mười phần kính trọng, trong khi Phó Hấp chỉ là một người cư sĩ bình thường, tuổi tác không phải cao niên, lại dám dâng thư lên Quốc vương, bày đạo trị nước và tu hành, do đó Tăng tục đều ngạc nhiên nghi ngờ, không ai dám trình thưa. Nhân đây, Phó Vãng đốt tay nơi đường vua thường đi, nhờ đó mới dâng được thư. Lương Võ đế đọc thư của Đại sĩ xong, liền sai sứ triệu vào diện kiến.

choconxauxi
07-12-2016, 09:56 AM
Khi Ngài ra mắt Lương Võ Đế, vua liền hỏi Ngài rằng :”Xin Đại sĩ cắt nghĩa cho quả nhơn nghe làm sao kêu là : Đạo?”

Ngài trả lời rằng: “Tâm thiệt là Đạo”, tôi xin chứng nghiệm như vầy, thì bệ hạ đủ hiểu, Khi bệ hạ chưa lên ngự tại điện này, trong tâm lúc ban đầu chưa khởi niệm, bổn trí vẫn tự nhiên mà được diệu tịnh quang huy, sáng suốt hiện buổi nay, rực rỡ đến thuở trước, và đầy lấp tất cả cõi Thái hư, cái tịnh quang ấy muôn đời không sanh, vĩnh kiếp không diệt, chẳng phải Thánh mà cũng chẳng phải Phàm, không thúc phược mà cũng không giải thoát. Đó là tâm thể rất mầu nhiệm và rất vắng lặng. Ngoài cái tâm không có đạo gì riêng khác, và ngoài đạo cũng không có tâm nào phân biệt nữa, vì thế cho nên mới gọi: “tâm là đạo”.

Vua Võ Đế lại hỏi nữa rằng: “Vậy chớ Đại sĩ có tôn ai làm Thầy hay không?”

Ngài bạch rằng: “Thầy thì không có ai là Thầy của bần đạo, còn tôn thì bần đạo cũng không có tôn ai, đến việc tùng sự, thì cũng không có tùng sự với người nào cả”.

Vua Võ Đế nghe Ngài nói như vậy càng tôn trọng Ngài một cách rất đặc biệt.

Đoạn Ngài lại thưa với Vua rằng: “Bệ hạ ngày nay mà đặng hưởng điều tôn vinh như vầy, nguyên nhân cũng là một vị Bồ Tát hạ trần mà cứu thế. Vậy xin Bệ hạ phải mở thông ý địa, nên tự lượng nơi mình, tâm để cho thanh tịnh, đừng trước nhiễm vật gì, lấy đó làm căn bản, lấy sự vô tướng làm nhơn, nguyện vọng chí thành cầu cho đạt tới chỗ Niết bàn mà làm quả.
Nếu bệ hạ thi thố những phương pháp trị quốc, thì phải dùng chánh pháp mà sửa trị trong thế gian, và thi hành những điều nhơn đức, đặng làm cho lê dân cảm hóa.
Trong triều thì trọng dụng những người hiền tài mà trừ khử mấy kẻ cưu lòng gian nịnh, còn ngoài thì thi nhơn chánh đến kẻ quan quả, cô độc, bỏ những hình phạt trừng trị nặng nề, và ban chánh lịnh cho có nghiêm minh trật tự. Nếu Bệ hạ trị vì trong thiên hạ, thi nhơn bố đức được như thế, thì kẻ xa người gần đều gội nhuần ơn đức vô cùng vô tận. Chừng đó việc can qua phải dứt, mà trong đội ngũ lại ninh bình, thì ngôi trời được hùng tráng mà an hưởng cuộc thái bình. Nếu chánh sách thi thố được công hiệu như thế, thì Bệ hạ thiên cơ đã thần diệu, lại còn nối ngôi quốc tổ được lâu dài nữa. Đó là bần đạo hi vọng sao cho Bệ hạ được như vậy”.

choconxauxi
07-12-2016, 10:13 AM
Niên hiệu Đại Đồng thứ năm (539), Đại sĩ lại đến Kim Lăng, cùng Võ đế thảo luận Phật học chân đế. Đại sĩ nói: “Vua nào có tâm để biện? Tôi nào có nghĩa để luận?”. Vua đáp: “Hữu tâm cùng vô tâm đồng vào thật tướng, thật tướng lìa ngôn thuyết, nên không cần biện cũng không cần luận”.

Một hôm, Võ đế hỏi: “Sao là chân đế?”. Đại sĩ đáp: “Dứt mà không diệt”. Vua hỏi: “Nếu dứt mà không diệt tức là có sắc, có sắc nên trì độn. Như thế cư sĩ ắt chưa khỏi dòng tục”. Đáp: “Gặp tiền tài không cẩu thả để được, gặp khó khăn không cẩu thả để tránh”. Vua nói: “Cư sĩ rất biết lễ”. Đại sĩ nói: “Tất cả các pháp chẳng có cũng chẳng không”. Vua nói: “Xin thọ lãnh ý chỉ này”. Đại sĩ nói: “Tất cả sắc tướng, đều trở về không, như trăm dòng sông không ra khỏi biển lớn, vạn pháp không ra khỏi chân như. Chỉ có Đấng Như Lai một mình vượt hẳn chín mươi sáu đường trong ba cõi, xem tất cả chúng sinh như con đỏ. Thiên hạ không phải đạo thì Phật chẳng an, không phải lễ thì Phật chẳng vui”.

Có một ngày kia, ông Lưu Trung Thừa ngồi tại chỗ trạm dịch với Ngài, thoạt thấy có Thánh giá vừa đến, liền lật đật đứng dậy làm lễ, còn Ngài ngồi yên lặng một chỗ.
Khi Thánh giá qua khỏi rồi, ông Lưu Trung Thừa bèn hỏi Ngài rằng: “Theo ý tôi tưởng, Ngài chẳng chịu làm tôi với Thiên tử, không muốn làm bạn với Chư hầu, cớ sao mà lại ngã mạn như vậy, xin Ngài nói cho tôi rõ”.
Ngài liền đáp rằng: “Để bần đạo giải cho ông rõ. Phàm việc kỉnh mà biểu lộ ra hình tướng, thì không có tánh kỉnh, còn bề ngoài chẳng cử động sự kỉnh về lễ nghe tham bái, thì thiệt trong tâm có ẩn điều kỉnh vô giá. Bần đạo thấy Thánh giá mà động thân, thì pháp địa tự nhiên cũng rúng động. Hễ pháp địa rúng động, thì tất cả các pháp cũng chẳng an nhẫn, nếu các pháp chẳng an nhẫn, tức là không có kỉnh, nên bần đạo vẫn ngồi tự nhiên là vậy đó”.
Ông Lưu Trung Thừa nghe Ngài nói như thế, thì rất kỉnh phục.

Một lần nọ, Lương Võ Đế thiết lập một chỗ pháp hội rất nghiêm trang, rồi thỉnh Ngài lên diễn kinh Kim Cang cho bá tánh nghe.

Khi đăng đàn, Ngài lên ngồi trên pháp tòa, lẳng lặng làm thinh được giây phút, rồi lấy thước vỗ mạnh xuống bàn và xuống tòa, chớ không nói một lời chi cả.

Trong đám người đến nghe kinh đó, có một vị Thái tử thấy vậy mới hỏi Ngài rằng: “Thưa Ngài! Đáng lẻ chỗ Chư Thiên Nhơn câu hội đây, Ngài phải giảng giải cho mọi người rõ thấu lẽ chơn chánh của Phật, đặng nhờ đó mà tu học mới phải, cớ sao Ngài làm thinh mà không biện luận nghĩa lý chi, lại vội xuống pháp tọa như vậy ?”

Ngài liền trả lời rằng: “Phàm việc gì nói hay là nín, đều thuộc về Phật sự cả”.

Thái tử nghe mấy lời bèn làm thinh, trong lòng càng khâm phục Ngài vô cùng.

choconxauxi
07-12-2016, 10:28 AM
Cách ít lâu, Ngài ra mắt vua rằng: “Muôn tâu bệ hạ! Bần đạo có như ý bửu châu và thanh tịnh giải thoát, chiếu diệu rõ rệt đến mười phương. Nếu Bệ hạ chịu thọ lãnh mấy vật ấy, thì có ngày sẽ chứng đến quả Bồ đề. Vả lại các pháp chẳng phải có, mà cũng chẳng phải không, phàm vật gì thuộc về hữu tình đồng quy nơi thiệt tế . Các việc trong thế gian đều là bức tranh huyễn hóa, rốt cuộc rồi hoàn về chỗ không, cũng ví như trăm sông tuy phân ra muôn dòng ngàn mạch, nhưng tóm lại cũng chảy về biển.
Pháp Thế gian và pháp Xuất thế gian cũng chẳng qua là lý chơn như. Vì lý chơn như thiệt không có sanh và không có diệt, nên không có Niết bàn, tam thế cũng bình đẳng, mười phương đều thanh tịnh. Nếu lấy phần thanh tịnh bình đẳng ấy làm sự nhiêu ích cho các giống hữu tình, thì được đồng lên bờ giác ngạn.
Nếu chỗ sắp đặt phương pháp đặng như thế, thì cuộc trị bình trong thiên hạ sẽ hóa ra cảnh giới trang nghiêm. Đó là Bệ hạ dùng diệu pháp mà tế độ nơi đời, được như vậy thì các khác nào như một vị Từ Bi Vương tái thế”.

Khi Ngài ở tại Chùa Song Lâm, thấy Kinh tạng chứa đầy, Ngài biểu mấy đạo chúng đem từng cuốn mà tả ra. Bổn ý của Ngài muốn khiến cho kẻ sơ địa phàm phu nhờ công đức chuyển Kinh đó mà đạt tới nơi chánh chơn của Phật. Bởi vậy trong thiên hạ, duy có chỗ Song Lâm, thì Thiên Long thường ủng hộ, nên Kinh tạng được toàn bổn mà lưu truyền đời sau.

Thoạt một ngày kia, có một làn Định quang Kim túc của Đức Thích Ca, mùi thơm bát ngát, từ phương Đông bay đến mà nhóm nơi mình của Ngài. Bỗng nhiên có tiếng xướng rằng: “Phó Đại Sĩ xuất hiện ra đây, là thay thế cho Đức Thích Ca mà thuyết pháp, ngồi trên chỗ Long Hoa thắng hội mà chỉ rõ cái bổn nguyện từ mẫn của Đức Văn Thù và xiển dương huệ tập phổ thế của Đức Quán Âm”.

Rõ ràng Ngài cũng như bực y vương, đại thí những lương phương diệu dược mà điều trị tất cả bịnh vô minh phiền não.

choconxauxi
07-12-2016, 10:34 AM
Có một bửa kia, khí trời nóng nực, Ngài ra ngoài gành biển mà hóng mát, dòm thấy dưới mé có một vùng quanh co theo bờ, và dân cư tại đó chỉ làm được ruộng muối mà thôi. Hễ đến thời tiết mùa thu, thì nước biển tràn lên linh láng, không thế nào mà ngăn cản cho đặng.
Ngài thấy vậy, liền nói với những người bổn xứ rằng: “Bần đạo muốn làm sao cho chỗ này thành ra ruộng tốt, để cho bá tánh cày cấy đặng nhờ đó mà an cư lạc nghiệp”.

Dân chúng nghe mấy lời ấy, đều cười rộ lên mà nói rằng: ” Ông này thiệt điên cuồng! Thuở nay bờ biển mà ai làm thành ruộng cho đặng bao giờ ?”

Ngài thấy dân chúng không đem lòng tin, liền lấy bao đựng cát đem chất xây giáp vòng như vách lũy mà bao ngạn luôn bãi cát ấy.
Lạ thay! Trọn một vùng bờ đê của Ngài làm đó, cách ít lâu cứng cũng như đá vậy, ngăn được ngọn nước thủy triều ngoài biển, không thế nào chảy vô được nữa, nhưng hồi Ngài làm đó có chia ra ba chặng, để ngừa khi Trời hạn và nước lụt.
Đến sau, nội trong khu đất ấy đều thành ra ruộng cả, ước chừng hơn hai ngàn mẫu, thường năm cày cấy đặng mùa luôn luôn. Dân cư trong xứ mỗi năm gặt lúa rồi, trích ra một phần ba để cung cấp cho tăng đồ trong các Chùa lân cận, mua chim cá mà phóng sanh, và làm nhiều việc phước thiện khác nữa.
Hiện nay mấy cái bờ bằng cát của Ngài làm đó hằng bền chắc, không có hư rã chút nào.

Thiệt là linh cảm thay chỗ di tích của bực Đại Thánh ngày xưa! Cho nên dân cư ở dọc theo mé biển ấy đều được "no cơm ấm áo" (phong y túc thực) luôn luôn, cùng nhau lập Chùa thờ Ngài và truy tặng ruộng ấy là “phước điền”.

Sau Ngài qua phía Nam núi Phong Sơn mà chỉ điểm những chỗ ẩn tích nơi thâm khê cùng cốc, rồi mấy nơi ấy lần lần trở nên phong cảnh rất thiên nhiên và nét Xuân quang bốn mùa đều xuất sắc.

choconxauxi
07-12-2016, 10:43 AM
Bửa nọ, Ngài đi chơi tới xứ Bắc thượng, chợt thấy một người đương sửa soạn làm thịt gia súc.

Ngài lật đật chạy lại can rằng: “Bần đạo xin tỏ cho nhà ngươi nghe. Tất cả loài súc sanh, nguyên nhân cũng là người thế gian, chớ không phải khác đâu, vì tạo ác nghiệp rất nặng nề, nên nay phải chịu khổ quả như vậy. Thoảng như mình làm điều phước thiện mà một đời chẳng được giàu sang, thì cũng còn có ngày trông giải thoát, chớ tạo nghiệp sát sanh như vậy, thì ngày sau khó tránh khỏi luân hồi khổ thú. Bần đạo nguyện sao nhà ngươi hồi tâm tự lượng, đem tấm lòng nhân từ mà dung thứ những loài động vật, vì nó cũng đủ cả Phật tánh và cũng biết ham sống sợ chết như ta vậy.
Những người có lòng nhơn hằng lấy con mắt Từ mà quán xét, xem vạn vật với ta đồng một thể, và muôn tượng với ta đồng một gốc. Nếu tấm lòng nhơn ái được như thế, thì chẳng những trọn đức từ bi lợi vật một thuở mà thôi, lại nhiều kiếp được trường thọ là khác nữa”.

Người ấy nghe Ngài phân giải như vậy, liền tỏ ngộ và chung thân không dám sát sanh loài động vật nữa.

Lại có một khi, Ngài đương đi ngoài đường, tình cờ gặp một người nông phu vừa cột một con trâu, đặng tính bề làm thịt.

Ngài đi hối hả lại can rằng :”Phàm ở đời, có nhơn thì có quả, không có sai chạy mảy nào, đó là lẻ cố nhiên như vậy. Hễ giết loài vật, thì có ngày chúng nó cũng giết lại, vậy mà trong đời có ai biết sợ sệt đâu, núi đao rừng kiếm với vạc dầu ở chốn âm ty để trừng trị những người tạo ác nghiệp như ngươi vậy, thì đời kiếp nào mà trông phần giải thoát cho đặng”.

Người nông phu nghe Ngài nói như thế, liền cúi đầu đãnh lễ và nguyện trọn đời không dám tái phạm nữa.

choconxauxi
07-12-2016, 10:48 AM
Ngài thường đi chơi ngoài đồng, bữa nọ lại gặp một ông Sa di hỏi Ngài rằng: “Thưa Đại Sĩ! Làm thế nào mà hàng phục được vọng tâm của mình ?”

Ngài nghe hỏi, liền trả lời rằng :”Tâm là vật gì đâu mà ông phải tìm cho uổng công phu ?! Vả lại vọng tâm thiệt không có căn bản, hễ buông nó ra thì không thấy dấu tích gì là vọng. Bởi bị các duyên đeo đuổi lăng xăng, nên mới thành ra vọng niệm như vậy. Nếu nhứt chơn của ta đặng yên tịnh rồi, thì toàn thể như như phóng ra khắp cả pháp giới và bốn thể vẫn tự nhiên mà rõ rệt. Chừng đó, dẫu cho bụi trần cấu cũng không có thế nào mà che lấp cho đặng, thì có vật chi đâu mà ngươi gọi rằng điều phục”.

Ông Sa di nghe Ngài biện bạch như thế, vùng tỏ ngộ và tôn kính vô cùng, rồi đãnh lễ mà từ giã.

Cách ít lâu Ngài đi chơi, chợt thấy một ông Sa môn còn nhiễm theo tục trần, cứ khu trục trong trường mộng ảo.

Ngài bèn đón lại mà phủ dụ rằng :”Bần đạo coi ông vốn thiệt là Phật. Lẽ nào ông nên tự độ lấy mình, đặng mong có ngày chứng đặng quả Vô sanh pháp nhẫn, cớ sao ông lại còn yễm trợ theo thói phàm tình, đành che lấp bổn lai diện mục như vậy?"
Bây giờ ông phải bỏ các duyên cấu trược, mà giũ sạch những thói tà phong, ráng sức công phu mà suy tìm trong tâm thể vô sanh, thì có ngày sẽ đạt tới chỗ diệu minh chơn tánh. Nếu ông hồi quang phản chiếu cho toàn thủy toàn chung rồi, sẽ đặng vô ngại viên thông.
Bần đạo ao ước làm sao cho ông được như thế, thì có khác nào một vị La Hán xuất trần, nếu chẳng vậy thì cũng làm một vị Khuất sát trượng phu. Chớ cách hành động như ông đó, thì đã không có ích cho mình, mà lại uổng công xuất thế học đạo vô vi, đến chung quy cũng còn lăn lộn trong đường Lục đạo, biết chừng nào mà thoát ra khỏi đặng vòng sanh tử. Như vậy có khổ hay không ?”

Ông Sa môn nhờ Ngài điểm hóa, nên liền tỏ ngộ lý chơn thừa. Từ đó về sau, ông càng lo tu học, không còn nhiễm nữa.

Thiệt cách phô tế của Ngài không khác nào một ông lương y, đã điều trị không biết bao nhiêu là chứng trầm kha phế tật, rõ ràng một hột minh châu có thể "chỉ sắt hóa nên vàng", một lời pháp ngữ có thể đổi người phàm trở nên bực Thánh.

choconxauxi
07-12-2016, 11:26 AM
Bởi vậy cho nên Ngài thường dùng những phương tiện rất giản dị mà độ thoát tất cả chúng sanh qua khỏi sông mê bể khổ, dẫn dụ người đời ra khỏi nhà lửa.

Ngài chẳng kiêng kị "tục thanh" chi cả, cứ xen lẫn trong chốn trần lao, mà làm những sự lợi ích cho những người "sống say thác ngủ". Vì vậy cho nên trong tám phương hồ hải, chỗ nào cũng là viên giác đạo tràng của Ngài cả.

Còn đối với chúng sanh thì Ngài đối xử bình đẳng như con một cha, như người một nhà, không phân biệt nhơn ngã, và không biện luận Bắc Nam, vì tất cả chúng sanh thảy đều đủ Chơn như Diệu tánh như Ngài vậy, nhưng vì bị màn vô minh che lấp, nên phải trì trục trong vòng khổ hải sầu thành, luân hồi sáu cõi.

Ngài thường đối với quần chúng mà nói rằng: “Muôn tượng tuy bao la, song một mảy trần chẳng lập", động tịnh đều là pháp Phật, nếu một niệm mà được khế chơn, thì sẽ có ngày mau lên bờ bỉ ngạn.”

Ngài Phó Đại Sĩ có một bài kệ nổi tiếng:

空 手 把 鋤 頭
Không thủ bả sừ đầu
步 行 騎 水 牛
Bộ hành kị thủy ngưu
人 從 橋 上 過
Nhân tòng kiều thượng quá
橋 流 水 不 流
Kiều lưu thủy bất lưu.


Tay không nắm cán mai
Đi bộ: lưng trâu ngồi
Theo cầu qua bến nước
Cầu trôi nước chẳng trôi.

(Trúc Thiên dịch)

Đến đời Lương, nhằm khoảng vua Quân Vương trị vì, niên hiệu Trinh Minh, năm thứ hai, ngày mùng ba tháng ba, Ngài đối trước chúng nhơn mà nói rằng: “Qua năm tới đây, cũng ngày này và tháng này, thì ta đem trái “Di Lặc” mà cúng dường cho đại chúng”.

Quả nhiên qua năm sau, cũng trong ngày ấy và tháng ấy, đại chúng thấy Ngài ngồi kiết già trên bàn thạch, gần bên Chùa Song Lâm mà nhập diệt. Ai nấy thảy đều kinh dị và than thở vô cùng.

Trong đại chúng mới hiệp lực cùng nhau kết khám mà để thi hài của Ngài, rồi làm một tòa bửu tháp rất tôn trọng, ngoài ngạch bia có khắc hiệu là: Định Ứng Tháp.

Hiện nay tại chỗ bửu tháp ấy, tuy trãi mấy phen tang thương biến đổi, mà công trình vẫn còn đồ sộ như xưa, thánh tích nguy nga, xa trông vọi vọi, bốn mùa Phật tử tới lui chẳng ngớt, một phương trời chuông trống rất oai nghiêm.



https://i1.wp.com/pic80.picturetrail.com/VOL845/2884869/19265382/348274189.jpg